1. Khái niệm cướp

Cướp là hành vi dùng vũ lực hay đe doạ dùng vũ lực ngay tức khắc hoặc có hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được nhằm chiếm đoạt tài sản của họ.

Cướp là một trong những hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác nhằm mục đích tư lợi cho mình hoặc là đem tặng, cho, biếu, cấp phát... cho những người mà mình quan tâm. Cướp của cải (tài sản) đã xuất hiện ngay từ khi có chế độ tư hữu và xã hội phân chia thành những người giàu và người nghèo.

Cướp là một loại tội phạm chiếm đoạt tài sản nghiêm trọng nhất trong các tội chiếm đoạt tài sản. Nó trực tiếp đe doạ đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần và tài sản của con người. Do vậy, trong Bộ luật hình sự của Việt Nam cũng như của nhiều Nhà nước khác trên thế giới có một hoặc một số điều luật quy định về tội cướp (cướp tài sản Nhà nước - tài sản xã hội chủ nghĩa và cướp tài sản của công dân). Phương thức cướp tài sản thường là sử dụng sức mạnh vật chất (có hoặc không có công cụ, phương tiện phạm tội) để đè bẹp sự chống cự hoặc làm tê liệt sự phản kháng, chống đối lại của người có tài sản. Đe dọa dùng vũ lực là hành vi của người cướp tài sản đã sử dụng lời nói hoặc cử chỉ hay hành động đe dọa xâm phạm ngay đến tính mạng, sức khỏe và làm tê liệt ngay ý chí chống cự - phản kháng của người có tài sản. Hành vi đe doạ dùng vũ lực ở đây có đặc điểm là ngay tức khắc. Đặc điểm này dùng để chỉ sự khẩn trương, nhanh chóng có thể xảy ra chớp nhoáng ngay về mặt thời gian, đồng thời đặc điểm này còn dùng để chỉ về sự mãnh liệt của sự đe doạ ở mức độ có thể xảy ra ngay lập tức làm cho người bị đe doa tê liệt ý chí chống cự, phản kháng của mình.

Các hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được là những hành vi mà khi sử dụng đến thì nó có khả năng cản trở được sự phản kháng hay chống đối của người có tài sản, chẳng hạn: hành vi đầu độc bằng thuốc mê hoặc là giam, giữ người để chiếm đoạt tài sản của họ...

Người nào dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc hoặc có hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được nhằm chiếm đoạt tài sản thì phạm vào tội cướp tài sản quy định tại Điều 168 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung 2017.

2. Cấu thành tội phạm cướp tài sản

2.1 về mặt khách quan tội cướp tài sản

Mặt khách quan của tội cướp tài sản được thể hiện ở hành vi chiếm đoạt tài sản bằng các thủ đoạn được mô tả trong điều luật: Dùng vũ lực; đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc; hoặc các hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được nhằm chiếm đoạt tài sản.

Trong đó:

Hành vi dùng vũ lực

Hành vi này được hiểu là dùng sức mạnh vật chất để chủ động tấn công người quản lý tài sản hoặc người khác nhằm chiếm đoạt tài sản. Hành động tấn công này có thể khiến nạn nhân bị thương tích, bị tổn hại sức khỏe hoặc tử vong nhưng cũng có thể chưa gây ra thương tích gì.

Hành vi đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc

Đây là hành vi dùng lời nói, hoặc hành động nhằm đe dọa nạn nhân nếu không đưa tài sản thì hành động vũ lực sẽ được thực hiện ngay. Đe dọa dùng ngay tức khắc thông thường được kết hợp những thái độ, cử chỉ, lời nói hung bạo tạo cảm giác cho người bị tấn công sợ và tin rằng người phạm tội sẽ dùng vũ lực ngay tức khắc nếu không giao tài sản.

Tuy nhiên cần chú ý đe dọa dùng vũ lực với đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc. Đây là dấu hiệu rất quan trong để phân biệt tội cướp tài sản với tội cưỡng đoạt tài sản, nếu đe doạ dùng vũ lực nhưng không ngay tức khắc thì đó là là dấu hiệu của tội cưỡng đoạt tài sản.

Ngay tức khắc là ngay lập tức không chần chừ, khả năng xảy ra là tất yếu nếu người bị hại không giao tài sản cho người phạm tội. Đe doạ dùng vũ lực ngay tức khắc, cũng có nghĩa là nếu người bị hại không giao tài sản hoặc không để cho người phạm tội lấy tài sản thì vũ lực sẽ được thực hiện.

Lưu ý: Đe dọa dùng vũ lực là chưa dùng vũ lực, nếu người phạm tội vừa đe dọa, vừa sử dụng vũ lực với người bị hại thì vẫn bị coi là dùng vũ lực.

Hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được

Đây là hành vi không dùng vũ lực, không đe dọa sử dụng vũ lực nhưng làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được (ví dụ như đánh thuốc mê người bị hại, khiến người bị hại không thể chống cự được và sau đó cướp tài sản).

Tội phạm này hoàn thành từ thời điểm người phạm tội đã thực hiện một trong các hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc vũ lực hoặc hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được, kể cả người phạm tội chưa chiếm đoạt được tài sản.

2.2 về chủ thể tội cướp tài sản

Người từ đủ 14 tuổi trở lên và có năng lực trách nhiệm hình sự

2.3 về khách thể tội cướp tài sản

Tôi cướp tài sản xâm phạm đồng thời 2 khách thể. Đó là:

+ Các quan hệ tài sản

+ Quan hệ nhân thân

Trong đó, khách thể bị xâm phạm trước là quan hệ nhân thân. Thông qua quan hệ nhân thân, người phạm tôi xâm phạm khách thể là quan hệ tài sản.

Đây là đặc trưng cơ bản của tội cướp tài sản, nếu chỉ xâm phạm đến một trong hai quan hệ xã hội thì chưa phản ảnh đầy đủ bản chất của tội cướp tài sản. Đây cũng là dấu hiệu để phân biệt tội cướp tài sản với các tội khác xâm phạm sở hữu và các tội mà người phạm tội có hành vi dùng vũ lực hoặc đe dọạ dùng vũ lực ngay tức khắc nhưng không nhằm chiếm đoạt tài sản.

2.4 Về mặt chủ quan tội cướp tài sản

Lỗi: Lỗi cố ý trực tiếp. Bởi người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả của hành vi đó là tài sản của người khác chiếm đoạt và mong muốn chiếm đoạt tài sản đó.

Mục đích: nhằm chiếm đoạt tài sản

3. Giá trị tài sản tội cướp tài sản xác định thế nào ?

3.1 Nguyên tắc định giá

+ Phù hợp với giá thị trường của tài sản cần định giá hoặc tài sản tương tự với tài sản cần định giá tại thời điểm và nơi tài sản được yêu cầu định giá.

+ Trung thực, khách quan, công khai, kịp thời.

3.2 Phương pháp định giá

Căn cứ theo quy định tại Điều 17 Nghị định 30/2018/NĐ-CP về phương pháp định giá tài sản:

- Căn cứ vào loại tài sản;

- Thông tin và đặc điểm của tài sản;

- Tình hình khảo sát giá, thu thập thông tin liên quan đến tài sản cần định giá;

- Hội đồng định giá thực hiện định giá tài sản theo tiêu chuẩn về thẩm định giá, phương pháp định giá chung đối với hàng hóa, dịch vụ và các tiêu chuẩn, phương pháp định giá quy định tại pháp luật chuyên ngành liên quan đến tài sản cần định giá.

Đối với một số trường hợp cụ thể, việc định giá tài sản thực hiện theo quy định trên, đồng thời tiến hành như sau:

+ Tài sản chưa qua sử dụng: Hội đồng định giá xác định giá của tài sản theo giá của tài sản giống hệt còn mới hoặc tài sản tương tự còn mới (nếu không có tài sản giống hệt);

+ Tài sản đã qua sử dụng: Hội đồng định giá xác định giá của tài sản trên cơ sở xác định giá trị thực tế của tài sản;

+ Tài sản bị hủy hoại, hư hỏng một phần; tài sản bị hủy hoại, hư hỏng toàn bộ nhưng vẫn có khả năng khôi phục lại tình trạng của tài sản trước khi bị hủy hoại, hư hỏng: Trường hợp cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng yêu cầu xác định giá trị thiệt hại của tài sản bị hủy hoại, hư hỏng một phần hoặc toàn bộ, Hội đồng định giá xác định giá trên cơ sở chi phí khôi phục lại tình trạng ban đầu của tài sản trước khi bị hủy hoại, hư hỏng một phần hoặc toàn bộ;

+ Tài sản bị mất, thất lạc; tài sản bị hủy hoại, hư hỏng toàn bộ và không có khả năng khôi phục lại tình trạng của tài sản trước khi bị hủy hoại, hư hỏng: Hội đồng định giá xác định giá của tài sản theo hồ sơ của tài sản trên cơ sở các thông tin, tài liệu thu thập được về tài sản cần định giá;

+ Tài sản là hàng giả: Hội đồng định giá xác định giá tài sản theo giá của hàng thật hoặc giá của tài sản tương tự theo quy định của Bộ luật Hình sự;

+ Tài sản không mua bán phổ biến trên thị trường; tài sản là kim khí quý, đá quý, di vật, cổ vật hoặc vật có giá trị văn hóa, tôn giáo, khảo cổ, kiến trúc, lịch sử: Hội đồng định giá xác định giá tài sản dựa trên kết quả giám định, ý kiến đánh giá của cơ quan có thẩm quyền và chuyên gia về lĩnh vực này hoặc giá trị ghi trong hồ sơ, tài liệu của tài sản.

4. Hình phạt của tội cướp tài sản

Theo Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017, người phạm tội cướp tài sản phải chịu hình phạt sau:

4.1 Về hình phạt chính

– Phạt tù từ 3 năm đến 10 năm

Người nào dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc hoặc có hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được nhằm chiếm đoạt tài sản, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm.

– Phạt tù từ 7 năm đến 15 năm

Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

+ Có tổ chức;

+ Có tính chất chuyên nghiệp;

+ Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30%;

+ Sử dụng vũ khí, phương tiện hoặc thủ đoạn nguy hiểm khác;

+ Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;

+ Phạm tội đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu hoặc người không có khả năng tự vệ;

+ Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;

+ Tái phạm nguy hiểm.

– Phạt từ từ 12 năm đến 20 năm

Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm:

+ Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;

+ Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%;

+ Lợi dụng thiên tai, dịch bệnh.

– Phạt từ từ 18 năm đến 20 năm

Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 18 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân:

+ Chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên;

+ Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 31% trở lên;

+ Làm chết người;

+ Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp.

4.2 Hình phạt bổ sung và hình phạt đốivới người chuẩn bị phạm tội

+ Về hình phạt bổ sung

Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt quản chế, cấm cư trú từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

+ Đối với người chuẩn bị phạm tội cướp tài sản

Người chuẩn bị phạm tội này, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

Luật Minh Khuê (tổng hợp & phân tích)