1. Chủ nghĩa tư bản độc quyền là gì?

Lý thuyết về chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước ban đầu là một luận điểm của chủ nghĩa Mác được phổ biến sau Chiến tranh thế giới thứ hai. Năm 1916, Lenin từng tuyên bố rằng Chiến tranh thế giới thứ nhất đã biến chủ nghĩa tư bản tự do thành chủ nghĩa tư bản độc quyền, nhưng ông không công bố bất kỳ lý thuyết sâu rộng nào về chủ đề này. Thuật ngữ này đề cập đến một môi trường mà nhà nước can thiệp vào nền kinh tế để bảo vệ các doanh nghiệp độc quyền hoặc chuyên chính lớn hơn khỏi các mối đe dọa. Như được Lenin hình thành trong cuốn sách nhỏ cùng tên, lý thuyết này nhằm mục đích mô tả giai đoạn lịch sự cuối cùng của chủ nghĩa tư bản, trong đó ông tin rằng Chủ nghĩa đế quốc thời đó là biểu hiện cao nhất.

Về chủ nghĩa tư bản nhà nước cũng như trong các lý thuyết chống nhà nước theo chủ nghĩa tự do từ nó.

Lý thuyết tư bản độc quyền cho rằng chủ nghĩa tư bản trải qua các giai đoạn phát triển và biến đổi khi một số thể chế thống trị của nó thay đổi đáng kể theo thời gian. Nó cũng nói rằng những thay đổi lịch sử đối với sự tập trung nhiều hơn của ngành công nghiệp cần phải được đưa vào nền tảng của lý thuyết kinh tế. Sẽ không đủ nếu chỉ đơn thuần giả định mức độ cạnh tranh cao, vì mức độ độc quyền là rất quan trọng đối với hoạt động của chủ nghĩa tư bản theo nhiều cách.

Phần lớn cuộc tranh luận về chủ nghĩa tư bản độc quyền liên quan đến mức độ tập trung của ngành công nghiệp; lực lượng nào kiểm soát tập đoàn lớn; liệu có tồn tại xu hướng trì trệ do cầu hiệu quả không; và liệu một lực lượng lớn cái gọi là chất thải có cần thiết cho chủ nghĩa tư bản để giảm thiểu các vấn đề về cầu một cách định kỳ hay không.

"Tư bản độc quyền" là thuật ngữ thường được sử dụng trong kinh tế chính trị mác xít và bởi một số nhà phân tích không theo chủ nghĩa Mác để chỉ định hình thức tư bản mới, thể hiện trong tập đoàn khổng lồ hiện đại, bắt đầu từ quý cuối của thế kỷ XIX, đã thay thế cho tư bản nhỏ, công ty gia đình với tư cách là đơn vị kinh tế thống trị của hệ thống, đánh dấu sự kết thúc của giai đoạn cạnh tranh tự do của chủ nghĩa tư bản và sự bắt đầu của chủ nghĩa tư bản độc quyền.

>> Xem thêm: Nguyên nhân hình thành chủ nghĩa tư bản độc quyền

 

2. Nguyên nhân xuất hiện chủ nghĩa tư bản độc quyền.

Đến cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, chủ nghĩa tư bản có sự chuyển biến từ chủ nghĩa tư bản tự do cạnh tranh thành chủ nghĩa tư bản độc quyền do những nguyên nhân cơ bản sau: 

- Sự phát triển của lực lượng sản xuất dưới tác động của tiến bộ khoa học kỹ thuật làm xuất hiện những ngành sản xuất mới, quá trình tích tụ và tập trung sản xuất được đẩy mạnh, các xí nghiệp có quy mô lớn được hình thành.

- Vào năm 30 cuối của thế kỷ XIX, có nhiều thành tựu khoa học kỹ thuật như lò luyện kim, sự ra đời của máy móc, phát triển những phương tiện vận chuyển mới (xe hơi, tàu thủy, xe điện, máy bay, đường sắt,...) Điều này đòi hỏi thành lập các xí nghiệp lớn, dẫn đến tăng năng suất lao động, tăng khả năng tích lũy tư bản, thúc đẩy phát triển sản xuất lớn.

- Trong điều kiện phát triển của khoa học kỹ thuật, sự tác động của các quy luật kinh tế của chủ nghĩa tư bản như quy luật giá trị thặng dư, quy luật tích lũy,... ngày càng mạnh mẽ, làm biến đổi cơ cấu kinh tế của xã hội tư bản theo hướng tập trung sản xuất quy mô lớn.

- Sự phát triển của khoa học kỹ thuật, sự tác động của các quy luật kinh tế của chủ nghĩa tư bản như quy luật giá trị thặng dư, quy luật tích lũy,... ngày càng mạnh mẽ, làm biến đổi cơ cấu kinh tế của xã hội tư bản theo hướng tập trung sản xuất quy mô lớn.

- Sự phát triển nhanh chóng nêu trên dẫn đến sự cạnh tranh khốc liệt buộc các nhà tư bản phải tích cực cải tiến, tăng quy mô tích lũy nhằm tăng sức cạnh tranh. Qúa trình cạnh tranh gay gắt làm cho các nhà tư bản vừa và nhỏ bị phá sản, các nhà tư bản lớn ngày càng phát triển.

- Đặc biệt là cuộc khủng hoảng kinh tế năm 1873 làm phá sản hàng loạt xí nghiệp vừa và nhỏ, thúc đẩy nhanh chóng quá trình tích tụ và tập trung tư bản.

Bên cạnh đó, sự phát triển của hệ thống tín dụng cũng trở thành đòn bẩy quan trọng thúc đẩy tập trung sản xuất, nhất là việc hình thành các công ty cổ phần tạo tiền đề để cho sự ra đời của các tổ chức độc quyền.

 

3. Bản chất của chủ nghĩa tư bản độc quyền.

Chủ nghĩa tư bản độc quyền sẽ xuất hiện khi chủ nghĩa tư bản cạnh tranh tự do phát triển đến độ nhất định. Mới đầu khi chưa hoàn toàn là chủ nghĩa tư bản độc quyền thì các tư bản độc quyền chỉ có trong một số ngành, một số lĩnh vực của nền kinh tế. Nhưng đến khi sức mạnh của các tổ chức độc quyền đã được nhân lên nhanh chóng và từng bước chiếm địa vị chi phối trong toàn nền kinh tế thì lúc này tư bản độc quyền đã được thực sự là chù nghĩa tư bản đúng nghĩa và đem trong mình những bản chất riêng biệt sau:

Độc quyền có đặc điểm là không có cạnh tranh, có thể dẫn đến chi phí cao cho người tiêu dùng, sản phẩm và dịch vụ kém chất lượng, các phương thức kinh doanh tham nhũng.

Một công ty thống trị một lĩnh vực kinh doanh hoặc ngành công nghiệp có thề sử dụng vị trí đó để làm lợi thế của mình với chi phí của khách hàng. Nó có thể tạo ra sự khan hiếm giả tạo, cố tình giá cả và phá vỡ quy luật tự nhiên của cung và cầu. Nó có thể tạo ra sự khan hiếm giả tạo, cố định giá cả và phá vỡ quy luật tự nhiên của cung và cầu. Nó có thể cản trở những người mới tham gia vào lĩnh vực này và ngăn cản quá trình thử nhiệm hoặc phát triển sản phẩm mới. Người tiêu dùng bị từ chối quyền lựa chọn đối thủ cạnh tranh, là thương xót của họ.

Chủ nghĩa tư bản độc quyền có một thị trường độc quyền thường trở nên không công bằng, bất bình đẳng và kém hiệu quả.

 

4. Đặc điểm của chủ nghĩa tư bản độc quyền?

Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lê nin, chủ nghĩa tư bản độc quyền có những đặc điểm như sau:

Thứ nhất, chủ nghĩa tư bản độc quyền sẽ tập trung sản xuất và các tổ chức độc quyền:

Nền kinh tế trong giai đoạn chủ nghĩa tư bản độc quyền được thể hiện rõ nhất ở các xí nghiệp ở Pháp, Mỹ, Anh trong những năm 1900 thì với 1% tổng số xí nghiệp nhưng tổng số máy bay hơi nước và điện lực chiếm hơn 3/4 số lượng công nhân và tổng số sản phẩm được làm ra chiếm gần một nửa so với toàn thế giới.

Đồng thời các doanh nghiệp và xí nghiệp lớn cạnh tranh nhau gay gắt và có những doanh nghiệp và xí nghiệp liên kết nhau để nắm độc quyền.

Thứ hai, chủ nghĩa tư bản độc quyền có tư bản tài chính và đầu sỏ tài chính.

Khi các ngân hàng nhỏ và vừa không đủ tiềm lực và uy tín để phục vụ yêu cầu của các xí nghiệp lớn với mức độ tích tụ cao trong sản xuất công nghiệp đã tìm đến các ngân hàng lớn hơn.

Do đó, đã thể hiện được đặc điểm của chủ nghĩa tư bản độc quyền thông qua việc các ngân hàng nhỏ phải chấm dứt hoạt động hoặc sáp nhật vào ngân hàng lớn để tồn tại. Cũng chính vì vậy đã dẫn đến sự ra đời của các tổ chức độc quyền ngân hàng.

Thứ ba, chủ nghĩa tư bản độc quyền sẽ xuất khẩu tư bản.

Việc chủ nghĩa tư bản độc quyền nhằm chiếm đoạt giá trị thặng dư và các nguồn lợi nhuận khác thông qua việc xuất khẩu giá trị của các nước nhập khẩu tư bản.

Trên đây là những tư vấn của Luật Minh Khuê về sự ra đời và đặc điểm của chủ nghĩa tư bản độc quyền. Nếu quý bạn đọc còn bất kỳ vướng mắc nào, xin vui lòng liên hệ đến tổng đài luật sư tư vấn trực tuyến 1900.6162 để được hỗ trợ nhanh chóng nhất. Trân trọng!