1.Quan hệ pháp luật dân sự 

Quan hệ pháp luật là những quan hệ xã hội được các quy phạm pháp luật điều chỉnh. Trong hệ thống pháp luật, mỗi ngành luật điều chỉnh một nhóm quan hệ xã hội khác nhau. Quan hệ pháp luật dân sự là một dạng quan hệ pháp luật, vì vậy, nó mang đầy đủ đặc tính của quan hệ pháp luật về bản chất xã hội, bản chất pháp lí, tính cưỡng chế nhà nước…
Do tác động của các quy phạm pháp luật lên các quan hệ xã hội nên các bên tham gia vào các quan hệ đó có các quyền và nghĩa vụ pháp lí tương ứng. Các quyền, nghĩa vụ pháp lí này được Nhà nước bảo đảm thực hiện. Sự tác động của các quy phạm pháp luật vào các quan hệ xã hội không làm mất đi tính xã hội của các quan hệ đó mà làm cho các quan hệ này mang một hình thức mới “quan hệ pháp luật”. Hậu quả của nó là các quyền và nghĩa vụ của các bên được Nhà nước bảo đảm thực hiện bằng những biện pháp cưỡng chế của Nhà nước.
Quan hệ pháp luật là quan hệ xã hội mang tính chất ý chí – ý chí của Nhà nước thông qua các quy phạm pháp luật mà nội dung của chúng được xác định bằng các điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội tồn tại trong xã hội đó vào thời điểm lịch sử nhất định. Ngoài ra, các quan hệ pháp luật còn mang ý chí của các chủ thể tham gia vào quan hệ đó. Ý chí của các chủ thể phải phù hợp với ý chí của Nhà nước và được thể hiện khác nhau trong từng quan hệ cụ thể, từng giai đoạn của nó (phát sinh, thực hiện hoặc chấm dứt). Có thể chỉ thể hiện khi phát sinh, lúc thực hiện hay chấm dứt một quan hệ cụ thể, song ý chí của các chủ thể tham gia vào các quan hệ này phải phù hợp với ý chí của Nhà nước thể hiện qua các quy phạm pháp luật dân sự và các nguyên tắc chung của luật dân sự được quy định trong BLDS.

2. Đặc điểm các quan hệ pháp luật dân sự

Ngoài các đặc điểm chung của quan hệ pháp luật, quan hệ pháp luật dân sự còn mang những đặc điểm riêng. Những đặc điểm riêng này xuất phát từ bản chất của các quan hệ xã hội mà nó điều chỉnh và những đặc điểm của phương pháp điều chỉnh.
– Chủ thể tham gia vào các quan hệ dân sự đa dạng, bao gồm cá nhân, pháp nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác. Tuy nhiên khi tham gia vào quan hệ dân sự, các chủ thể độc lập với nhau về tổ chức và tài sản. Xuất phát từ các quan hệ mà luật dân sự điều chính là những quan hệ tài sản và quan hệ nhân thân – những quan hệ phát sinh trong đời sống thường nhật của các cá nhân cũng như trong các tập thể, trong tiêu dùng cũng như hoạt động sản xuất, kinh doanh, cho nên, cá nhân và tổ chức đều là chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự
Trong giao lưu dân sự, pháp nhân tham gia vào các quan hệ dân sự, các chủ thể này độc lập với nhau về tổ chức và tài sản, được quyền tự định đoạt khi tham gia vào các quan hệ nhưng buộc phải thực hiện các nghĩa vụ khi đã tham gia vào các quan hệ đó.
– Địa vị pháp lí của các chủ thể dựa trên cơ sở bình đẳng, không bị phụ thuộc vào các yếu tố xã hội khác. Mặc dù trong quan hệ pháp luật dân sự cụ thể, các bên tham gia là các chủ thể đối lập nhau trong việc phân định quyền và nghĩa vụ: một bên mang quyền, một bên gánh chịu nghĩa vụ và thông thường, trong quan hệ dân sự, các bên đều có quyền và nghĩa vụ đối nhau. Tuy nhiên, điều đó không làm mất đi sự bình đẳng mà nó chỉ hạn chế sự bình đẳng so với trước khi tham gia vào quan hệ dân sự. Khi thực hiện các quyền và nghĩa vụ phát sinh từ các quan hệ pháp luật dân sự, các bên không được áp đặt ý chí của mình để buộc bên kia thực hiện nghĩa vụ mà tạo điều kiện cho họ lựa chọn cách thức thực hiện các quyền và nghĩa vụ sao cho có lợi nhất cho các bên.
– Lợi ích (trước tiên là lợi ích kinh tế) là tiền đề trong phần lớn các quan hệ dân sự. Quan hệ tài sản mang tính chất hàng hoá – tiền tệ và được điều chỉnh bằng các quy phạm pháp luật đã tạo điều kiện cho các chủ thể thông qua các biện pháp pháp lí để thoả mãn các nhu cầu vật chất cũng như tinh thần. Sự đền bù tương đương là đặc trưng của quan hệ tài sản mang tính chất hàng hoá – tiền tệ do luật dân sự điều chỉnh. Bởi vậy, bồi thường toàn bộ thiệt hại là đặc trưng của trách nhiệm dân sự. Quan hệ dân sự chủ yếu là quan hệ tài sản, do vậy, yếu tố tài sản là cơ sở, là tiền đề phát sinh quan hệ dân sự, cho nên bảo đảm bằng tài sản là đặc trưng để buộc bên có nghĩa vụ thực hiện nghĩa vụ của họ và bên có quyền có thể thông qua các biện pháp bảo đảm này để thoả mãn các quyền tài sản của mình.
– Các biện pháp cưỡng chế đa dạng không chỉ do pháp luật quy định mà có thể tự các bên quy định về các biện pháp cưỡng chế cụ thể và hình thức áp dụng các biện pháp cưỡng chế đó. Nhưng đặc tính tài sản là đặc trưng cho các biện pháp cưỡng chế trong luật dân sự.

3. Quy chế pháp lý dân sự của pháp nhân nước ngoài

Pháp nhân mang quốc tịch của một nước nhất định và được tổ chức và hoạt động theo pháp luật của nước đó. Nói cách khác, năng lực pháp luật dân sự tại nơi thành lập, điều kiện và thủ tục thành lập, hợp nhất, sáp nhập, chia tách, giải thể pháp nhân, thanh lý tài sản khi giải thể pháp nhân,v.v., trong mọi trưòng hợp đều do pháp luật của nưốc mà pháp nhân mang quốc tịch quy định.

Khi hoạt động với tư cách là pháp nhân nước ngoài ở một nước nào đó, năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân trên lãnh thổ nước sở tại còn tuỳ thuộc vào quy định của pháp luật nước sở tại. Tuy nhiên, những vấn đề về tổ chức, vấn đề nội bộ, giải thể, thanh lý tài sản khi giải thể pháp nhân vẫn theo quy định của pháp luật của nước mà pháp nhân đó mang quốc tịch.

Việc cho pháp nhân nước ngoài vào hoạt động hay không, cho phép vào để tiến hành những hoạt động gì, trong lĩnh vực nào, ở phạm vi nào, cho pháp nhân đó hưởng thêm những quyền gì và có những nghĩa vụ gì cụ thể, là vấn đề thuộc chủ quyền của nước sỏ tại. Những vấn đề này thường được quy định trong văn bản pháp luật quốc giạ (ví dụ: Luật Đầu tư nước ngoài...) và cả trong các điều ước quốc tế mà nước sỏ tại ký kết hoặc tham gia (ví dụ: Các hiệp định buôn bán và hàng hải, các hiệp định khuyến khích và bầo hộ đầu tư giữa các nước ...).

4. Đặc điểm quy chế pháp lý dân sự của pháp nhân nước ngoài

Đặc điểm quy chế pháp lý dân sự của pháp nhân nưổc ngoài thể hiện trước hết ở chỗ cùng một lúc pháp nhân nước ngoài phải tuân theo hai hệ thông pháp luật là pháp luật của nước mà pháp nhân mang quốc tịch và pháp luật nơi pháp nhân hoạt động, nhưng trước hết phải tuân theo pháp luật của nưốc nơi tiến hành hoạt động. Khi hoạt động ở nước ngoài, phấp hhân phải tuân theo pháp luật nước ngoài chĩ đối vối những hoạt động ở nưốc ngoài; những vấn đề nội bộ của pháp nhân, giải thể, thanh lý tài sản của pháp nhân và những hoạt động trên lãnh thổ của nước mà pháp nhân mang quốc tịch, thì phải tuân theo pháp luật của nưốc mà nó mang quốc tịch.

Ngoài ra, đặc điểm quy chế pháp lý dân sự của pháp nhân nước ngoài còn thể hiện ở chỗ, nếu các quyền và lợi ích hợp pháp của pháp nhân nước ngoài trên lãnh thổ nước sỏ tại bị xâm phạm thì pháp nhân đó được Nhà nước của mình bảo hộ về mặt ngoại giao. Vấn đề này được quy định cả trong các điều ước quốc tế và cả trong pháp luật quốc gia. Ví dụ Điều 5 của Công ước Viên năm 1963 về quan hệ lãnh sự quy định rằng, một trong những chức năng của lãnh sự là bảo vệ tại nước tiếp nhận lãnh sự các quyền của nưổc cử lãnh sự và của công dân và pháp nhân của nước mình trong phạm vi pháp

luật quốc tế cho phép. Khoản 1 Điều 2 của Pháp lệnh lãnh sự của Việt Nam năm 1990 quy định “Cơ quan lãnh sự có nhiệm vụ, quyền hạn sau đây: Bảo vệ  nước ngoài quyền và lợi ích của Nhà nước, pháp nhân và công dân Việt Nam....”; Điều 17 của Pháp lệnh này còn khẳng .định cụ thể “1. Lãnh sự thi hành mọi biện pháp để pháp nhận và công dân Việt Nam được hưởng đầy đủ các quyền và lợi ích theo pháp luật nước tiếp nhận, điều ước quốc tế mà việt Nam và nước tiếp nhận ký kết hoặc tham gia, hoặc theó tập quán quốc tế.

Khi các quyền và lợi ích chính đáng của pháp nhân hoặc công dân Việt Nam bị vi phạm, lãnh sự thi hành mọi biện pháp để khôi phục quyền và Ịợi ích chính đáng đó”.

Nội dung cụ thể của quy chế pháp lý của pháp nhân nước ngoài ở các nước không giống nhau. Nó tuỳ thuộc vào thái độ chính trị, chính, sách kinh tế đôì ngoại của nưốc sỏ tại, vai trò của vốn, công nghệ, kỹ thuật của nước ngoài đốĩ vồi sự phát triển kinh tế - xã hội củá nưốc sỏ tại.

5.Xu hướng chung của thế giới hiện nay 

Xu thế chung hiện nay trên thế giới là quá trình quốc tế hoá mọi mặt đời sông, đặc biệt là đời sống kinh tế ngày càng được đẩy mạnh; các nước đều phải thực hiện chính sách mở cửa (nhất là các nước đang phát triển) nhằm tranh thủ vốn, khoa học - công nghệ và kinh nghiệm quản lý tiên tiến của nước ngoài để thúc đẩy phát triển kinh tế- xã hội. của mình, hội nhập với nền kinh tế khu vực và thế giới. Vì vậy, hoạt động của các pháp nhân nước ngoài ồ mỗi nước sẽ ngày càng sôi động. Điều đó sẽ hối thúc các quốc gia xây dựng nội dung quy chế pháp lý của pháp nhân nưởc ngoài ngày càng đầy đủ và thoáng hơn.

Ví dụ, ỏ nước ta trưốc thời mỏ cửa, các pháp nhân nước ngoài chủ yếu gồm các tổ chức ngoại thương của các nước đến Việt Nam để tìm hiểu thị trường mua bán và ký kết các hợp đồng mua bán. Hiện nay ngày càng có thêm nhiều. pháp nhân nước ngoài đến Việt Nam để đầú tư sản xuất, kinh doanh trong nhiều lĩnh vực khác nhau.

Quy chế pháp lý của pháp nhân nước ngoài trong những quan hệ xã hội nhất định có thể được xây dựng trên cơ sở chế độ đãi ngộ quốc dân, chế độ tốì huệ quốc, chế độ đãi ngộ đặc biệt. Việc áp dụng chế độ nào trong từng lĩnh vực cụ thể tuỳ thuộc vào quy định của pháp luật nước sỏ tại hoặc quy định của các điều ước quốc tế mà nước sở tại ký kết hoặc tham gia.

Theo pháp luật và thực tiễn của các nước những thập kỷ vừa qua, trong lĩnh vực tố tụng dân sự, quy chế pháp lý của pháp nhân nước ngoài được xây dựng chủ yếu trên cơ sở chế độ đãi ngộ quốc dân. Trong các lĩnh vực khác- trên cơ sở chế độ tối huệ quốc hoặc đãi ngộ đặc biệt. Riêng trong quan hệ nội bộ của từng khu vực hoặc trong quan hệ song phương, ngoài lĩnh vực tố tụng dân sự ra, trong nhiều trường hợp các nước thoả thuận dành cho các pháp nhân của nhau chế độ đãi ngộ quốc dân.

Luật Minh Khuê ( sưu tầm và biên tập )