Mục lục bài viết
- 1. Đặc điểm tâm lý của phạm nhân trong quá trình chấp hành án phạt tù
- 1.1 Những phạm nhân đã nhận ra tội lỗi trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử
- 1.2 Những phạm nhân cho rằng đã bị kết án bị oan, sai, hình phạt quá nặng hoặc hình phạt không công bằng
- 1.3 Những phạm nhân có sự sa sút, thoái hóa nghiêm trọng về nhân cách, thực hiện tội phạm chuyên nghiệp
- 2. Phân loại tâm lý tội phạm
- 2.1 Căn cứ vào đặc điểm loại tội phạm
- 2.2 Căn cứ vào giới tính
- 2.3 Căn cứ về độ tuổi
- 2.4 Căn cứ về quá trình chấp hành án
- 3. cải tạo phạm nhân giúp hình thành nhân cách tốt ở phạm nhân
- 4. Quản lý giam giữ, giáo dục phạm nhân có vai trò quan trọng trong việc giúp phạm nhân tái hòa nhập cộng đồng
1. Đặc điểm tâm lý của phạm nhân trong quá trình chấp hành án phạt tù
Việc thay đổi điều kiện, hoàn cảnh sống, những thử thách gò bó do quy chế, nội quy cơ sở giam giữ, những tác động tiêu cực từ tập thể phạm nhân là những yếu tố cơ bản hình thành những đặc điểm tâm lý của phạm nhân. Căn cứ vào thái độ của phạm nhân đối với việc mất tự do, có thể phân chia thành ba nhóm phạm nhân, tương ứng với ba thái độ phản ứng khác nhau đối với sự mất tự do
1.1 Những phạm nhân đã nhận ra tội lỗi trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử
Số người này thấy được việc họ bị bắt, kết án, trừng phạt của pháp luật là thỏa đáng nên ăn năn, hối hận về hành vi và hậu quả thiệt hại mà họ đã gây ra cho xã hội. Những phạm nhân này dễ thích nghi với môi trường cơ sở giam giữ. Họ tham gia tích cực đầy đủ vào các hoạt động lao động sản xuất, học văn hóa, học nghề và các phong trào thi đua của tập thể phạm nhân .
1.2 Những phạm nhân cho rằng đã bị kết án bị oan, sai, hình phạt quá nặng hoặc hình phạt không công bằng
giữa các đồng phạm cùng thực hiện một tội phạm.
Số người này có thể bề ngoài tỏ ra chấp hành, tuân thủ nội quy trại giam, tôn trọng cán bộ, nhưng ẩn chứa bên trong là sự bất mãn, lạnh nhạt, hờ hững với các tác động giáo dục. Họ nuôi giấu sự ấm ức trong lòng và khi có điều kiện, hoặc thái độ đối xử không đúng, không hợp lí của cán bộ sẽ bùng phát thành hành vi chống đối công khai hoặc ngấm ngầm, gay gắt như: trốn trại, cãi nhau, không phục tùng cán bộ, tham gia lao động và các hoạt động khác uể oải, cầm chừng, kích động chống đối
1.3 Những phạm nhân có sự sa sút, thoái hóa nghiêm trọng về nhân cách, thực hiện tội phạm chuyên nghiệp
hoặc những người có tư tưởng cực đoan về lối sống và nhận thức. Những phạm nhân này hoàn toàn có thái độ bất hợp tác, quay lưng lại với các tác động giáo dục. Trong tư tưởng họ luôn luôn bất bình, có ý thức chống đối rõ rệt quy chế, nội quy cơ sở giam giữ. Khi có điều kiện thì bản thân họ hoặc kích động người khác chống đối từ bí mật đến công khai trắng trợn như trốn tập thể, cướp súng, đầu độc cán bộ, bạo loạn… Số này trong thời gian chấp hành án, không chịu thừa nhận tội lỗi. Họ chỉ tính toán đến các biện pháp đối phó với cán bộ và cơ quan thi hành án và mong chờ ngày được tự do để tiếp tục chống phá .
2. Phân loại tâm lý tội phạm
2.1 Căn cứ vào đặc điểm loại tội phạm
Bên cạnh đó, nếu căn cứ vào đặc điểm loại tội phạm mà phạm nhân đã phạm phải, có thể thấy tâm lý phạm nhân cũng khác nhau:
- Đối với phạm nhân thuộc loại xâm phạm an ninh quốc gia:
phạm nhân thuộc loại tội xâm phạm an ninh quốc gia, đặc biệt là những tên chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy, thủ ác, giữ vai trò chủ chốt trong các tổ chức phản động… thường có tâm lý chống đối quyết liệt; những đối tượng này thường có trình độ kiến thức, văn hóa và chuyên môn, được đào tạo cơ bản, hệ thống, có hiểu biết xã hội, có kinh nghiệm trong cuộc sống, có tính tự trọng cao…
- Đối với phạm nhân thuộc loại xâm phạm trật tự an toàn xã hội: ở giai đoạn chấp hành án, tư tưởng của phạm nhân thuộc loại tội phạm này thường đã có sự ổn định, bình tính, an bài với số phậm và mức án của mình; phạm nhân thuộc loại này thường hiểu rằng vào cơ sở giam giữ là để chấp hành bản án phạt tù, là để lao động cải tạo dài ngày. Đối với phạm nhân thuộc loại xâm phạm trật tự an toàn xã hội: ở giai đoạn chấp hành án, tư tưởng của phạm nhân thuộc loại tội phạm này thường đã có sự ổn định, bình tính, an bài với số phậm và mức án của mình; phạm nhân thuộc loại này thường hiểu rằng vào cơ sở giam giữ là để chấp hành bản án phạt tù, là để lao động cải tạo dài ngày.
2.2 Căn cứ vào giới tính
có thể phân loại đặc điểm tâm lý:
- Đối với phạm nhân là nữ: thường yếu về lý trí, khó làm chủ về tâm tư tình cảm, dễ bị kích động; tâm trạng hay bị xáo trộn, có tính ổn định không cao; khi có tác động tích cực thì cảm động, tự tin, tự trọng, người lại có tác động tiêu cực thì buồn chán, tự ti
- Đối với phạm nhân là nam: thường có tâm trạng ổn định, ít bi quan hơn phạm nhân nữ.
2.3 Căn cứ về độ tuổi
có thể phân loại đặc điểm tâm lý:
- Đối với phạm nhân là người dưới 18 tuổi: phạm nhân này đang trong thời kỳ có những biến đổi về cơ thể và tâm lý, có phẩm chất cá nhân không vững chắc, hành động thường mang tính thử nghiệm, bốc đồng, dễ bị ảnh hưởng của tác động xấu. Tuy nhiên, nhóm phạm nhân này dễ được uốn nắn.
- Đối với phạm nhân ở lừa tuổi trưởng thành: phạm nhân này có ổn định về phẩm chất tâm lý như quan điểm sống, xu hướng, thói quen. Ở lứa tuổi này phạm nhân không dễ dàng thay đổi nếp nghĩ, thói quen vốn đã dẫn họ đi vào lối sống lệch lạc, vào con đường phạm tội.
- Đối với phạm nhân cao tuổi (trên 60 tuổi): thường họ là những người có những nỗi niềm, mong muốn, sở thích, đạo đức, thói quen, nhân sinh quan, thế giới quan tương đối ổn định và bền vững, khó thay đổi ; bản thân phạm nhân ở lứa tuổi này có nhiều kinh nghiệm sống. Mặc dù giai đoạn này sức khỏe của họ đã giảm sút, họ cố gắng giữ gìn sức khỏe để tồn tại, mong ngày trở về và luôn trăn trở về gia đình
2.4 Căn cứ về quá trình chấp hành án
có thể phân loại đặc điểm tâm lý thành:
- Thời gian đầu mới đến cơ sở giam giữ: thường phạm nhân phạm tội lần đầu mới đến chấp hành án tại cơ sở giam giữ thì mang tâm lý hoảng loạn do sốc tâm lý, thường tỏ ra bi quan, chán nản, thờ ơ; một số quan tâm, sợ hãi khi thiếu thốn vật chất, sự chèn ép của những phạm nhân khác, bệnh tật… Đối với phạm nhân có tiền án, tiền sự thuộc loại lưu manh chuyên nghiệp thì không tỏ ra hoang mang, lo sợ như lần đầu phạm tội mà tỏ ra bình thản đón nhận
- Trong thời gian chấp hành án: phạm nhân đã bắt đầu quen dần với môi trường cơ sở giam giữ, dần tạo thành những nhóm nhỏ cùng sinh hoạt, chia sẻ, những nhóm này có ảnh hưởng mạnh mẽ đến nhân thức, thói quen và hành vi của phạm nhân. Giai đoạn này phạm nhân nghĩ lại những hành vi tội lỗi của họ, những gì đã mất.. xuất hiện những mong muốn và hy vọng mới, muốn trở thành người lương thiện, hy vọng sớm được trở về với gia đình, kỳ vọng được giảm án .
- Trong thời gian sắp hết án: phạm nhân thường thoải mái, tích cực lao động, cải tạo tốt hơn. Tuy nhiên, tâm lý của phạm nhân phụ thuộc vào hoàn cảnh gia đình, có phạm nhân lo sợ khi trở về gia đình sẽ không chấp nhận, có phạm nhân không còn gia đình nên không biết đi đâu, về đâu
3. cải tạo phạm nhân giúp hình thành nhân cách tốt ở phạm nhân
Môi trường giáo dục trong các cơ sở giam giữ là môi trường giáo dục đặc biệt, cách ly với xã hội bên ngoài, đây là môi trường mang ý nghĩa giáo dục sâu sắc bởi tính nghiêm minh, có kỷ luật chặt chẽ bằng các nội quy, quy chế để đảm bảo phạm nhân không có điều kiện trốn, chống phá, phạm tội mới. Môi trường cơ sở giam giữ sẽ làm thức dậy phần người trong chính con người phạm nhân, là nơi tính tâm, hồi tâm, là nơi mà mọi phạm nhân có thể suy nghĩ hết về tội lỗi của mình để thấy được giá trị chân chính, giá trị xã hội của lao động, của quan hệ con người với con người .
Giáo dục phạm nhân là quá trình “giáo dục lại” nhằm làm cho phạm nhân phát triển nhân cách phù hợp với những giá trị cơ bản của xã hội. Đây là hoạt động nhằm cung cấp tri thức nhằm chuyển hóa các giá trị xã hội theo yêu cầu, đòi hỏi bên ngoài của xã hội thành hệ thống giá trị bên trong của từng phạm nhân; đồng thời thông qua giáo dục để từng bước đưa quá trình giáo dục phạm nhân thành quá trình tự giáo dục.
Quản lý, giáo dục phạm nhân thành công dân có ích cho xã hội là yêu cầu cao nhất và cũng là mục đích phải đạt được của công tác thi hành án phạt tù, thể hiện tính nhân đạo của Đảng và Nhà nước ta, đồng thời thể hiện tính triệt để sâu sắc trong phòng ngừa, đấu tranh chống tội phạm. Quá trình giam giữ, giáo dục phạm nhân có nhiệm vụ phát hiện, sửa chữa những tư tưởng, tình cảm, thói quen, hành vi không phù hợp với pháp luật và trật tự xã hội hiện hành, hình thành ở phạm nhân thế giới quan, nhân sinh quan, quan điểm đạo đức mới
4. Quản lý giam giữ, giáo dục phạm nhân có vai trò quan trọng trong việc giúp phạm nhân tái hòa nhập cộng đồng
Tái hòa nhập cộng đồng đối với người phạm tội là giai đoạn quan trọng trong quá trình chấp hành án phạt tù. Bởi lẽ, suy cho cùng mục đích của hoạt động quản lý giam giữ, giáo dục phạm nhân là phạm nhân trở thành người có ích cho xã hội; điều này thể hiện ở việc phạm nhân sau khi chấp hành án xong án phạt tù, họ có hòa nhập với cuộc sống xã hội. Những khó khăn phạm nhân tái hòa nhập cộng đồng chính là đời sống vật chất bấp bênh, không ổn định, không có việc làm, mối quan hệ trước đây không còn nữa, không có nhà ở, sự lo ngại của những người thân, của những hàng xóm nơi cư trú… .
Để khắc phục khó khăn trên, việc chuẩn bị những điều kiện cần thiết trong quá trình giam giữ, giáo dục phạm nhân đóng vai trò quan trọng cho phạm nhân tái hòa nhập cộng đồng. Việc giam giữ phạm nhân không hoàn toàn tuyệt đối cách li khỏi xã hội, phạm nhân vẫn đảm bảo các chế độ sinh hoạt văn hóa, văn nghệ; thăm gặp, liên lạc với thân nhân; đặc biệt các hoạt động giáo dục phạm nhân giúp cho phạm nhân có “hành trang” để tái hòa nhập cộng đồng. Các hình thức giáo dục phạm nhân như: giáo dục công dân; giáo dục pháp luật; giáo dục văn hóa; giáo dục thẩm mỹ; giáo dục đạo đức; giáo dục lao động và dạy nghề giúp cho phạm nhân tích lũy được những điều kiện cần thiết để tái hòa nhập cộng đồng.
Trân trọng!
Bộ phận tư vấn pháp luật hình sự - Công ty luật Minh Khuê