1. Dân số là gì?
Dân số là tổng số dân sống của một nước. Quy mô dân số bị quy định bởi tỷ suất sinh, tỉ suất tử và sự di cư trong quá khứ và hiện tại. Trong các nền kinh tế cổ truyền, dân số ổn định mặc dù tỷ lệ sinh cao, tỷ lệ tử cũng cao và không có các luồng di cư lớn. Khi các nước bước vào giai đoạn phát triển tốt hơn thì mức sống tăng nhanh, điều kiện sinh hoạt, y tế cũng phát triển dẫn tới tỷ suất tử giảm và dân số tăng nhanh. Đây là hiện tượng bùng nổ dân số.
Sự bùng nổ dân số có thể làm giảm tốc độ tăng trưởng và mức sống. Tuy nhiên, chiến lược phát triển kinh tế đúng đắn có thể làm giảm, thậm chí loại trừ tác động tiêu cực. Thực tế ở các nước tiên tiến như Mỹ, Đức, Nhật đã chứng minh nhận định này.
>> Xem chi tiết hơn tại: Dân số là gì? Đặc điểm, vai trò và tác động của dân số
2. Gia tăng dân số là gì?
Gia tăng dân số là việc dân số tăng lên một cách tự nhiên. Hiện nay, vấn đề gia tăng dân số đang là một vấn đề vô cùng nóng bỏng và nhận được nhiều quan tâm. Thực tế, dân số thế giới đã tăng rất nhanh và đột ngột từ thật niên 1950, khi các nước thuộc địa Châu Á, Châu Phi và Mĩ Latin giành được độc lập, đời sống được cải thiện và sự tiến bộ về y tế làm giảm nhanh tỷ lệ tử vong trong khi tỷ lệ sinh vẫn còn tăng cao. Bùng nổ dân số xảy ra khi tỷ lệ gia tăng bình quân hàng năm của dân số thế giới lên đến 2,1%. Dân số tăng nhanh vượt qua khả năng giải quyết các vấn đề ăn, mặc, ở, học hành, việc làm,... đã trở thành gánh nặng đối với các nước chậm phát triển.
3. Dân số tăng nhanh gây ra hậu quả gì?
Thứ nhất, sự gia tăng dân số quá nhanh là một mối nguy hại đối với môi trường. Dân số và môi trường là 2 yếu tố có quan hệ chặt chẽ với nhau. Trong đó, sự gia tăng dân số đã gây sức ép lớn đến tài nguyên thiên nhiên và môi trường do hoạt động khai thác quá mức phục vụ nhu cầu con người. Trong khi dân số không ngừng biến động thì nguồn tài nguyên thiên nhiên dần trở nên cạn kiệt và lượng khí thải ra môi trường ngày càng nhiều hơn.
Dân số càng nhiều, sức ép về thực phẩm, lương thực, năng lượng, môi trường, tài nguyên cũng ngày càng lớn. Trong đó, về nguồn tài nguyên khoáng sản và thuỷ điện, với trình độ kỹ thuật hiện nay, loài người đang đứng trước khó khăn rất lớn, việc cung cấp năng lượng ngày càng căng thẳng, điện sản xuất ra không đủ dùng, còn chất thải công nghiệp ngày càng gây ô nhiễm, ảnh hưởng trầm trọng đến môi trường tự nhiên. Đồng thời, các nguồn thải tập trung vượt quá khả năng tự phân huỷ của môi trường tự nhiên trong các khu vực đô thị, khu sản xuất nông nghiệp, công nghiệp. Sự gia tăng dân số đô thị và hình thành các thành phố lớn - siêu đô thị làm cho môi trường khu vực đô thị có nguy cơ bị suy thoái nghiêm trọng. Nguồn cung cấp nước sạch, nhà ở, cây xanh không đáp ứng kịp cho sự phát triển dân cư. Ô nhiễm môi trường không khí, môi trường nước tăng lên. Theo đó, các tệ nạn xã hội và vấn đề quản lý xã hội trong đô thị cũng ngày càng khó khăn. Có thể thấy, gia tăng dân số quá nhanh đang gây sức ép nặng nề đến môi trường toàn cầu. Diện tích trái đất hầu như không thay đổi trong khi số dân lại không ngừng tăng lên. Dân số tăng nhanh khiến cho môi trường không còn đủ khả năng đáp ứng được các nhu cầu cơ bản của con người. Do vậy, muốn giảm bớt những sức ép này, nhất thiết phải khống chế được tỷ lệ gia tăng dân số.
Thứ hai, tác động tiêu cực đến thị trường lao động. Theo đó, bùng nổ dân số sẽ tạo sức ép rất lớn đối với việc làm, gây ra tình trạng thiếu việc làm trầm trọng. Thông thường, lực lượng lao động xã hội chiếm khoảng 45% tổng số dân, tuy nhiên, do quy mô dân số lớn, tỷ lệ gia tăng dân số cao dẫn đến lực lượng lao động lớn và tăng nhanh. Mặt khác, lao động nước ta lại tập trung chủ yếu về nông nghiệp. Trong quá trình đô thị hoá, nhiều diện tích đất canh tác nông nghiệp đã bị thu hẹp, lực lượng lao động nông nghiệp dôi dư dẫn đến tình trạng thiếu việc làm, tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động càng gia tăng. Đồng thời, khi lực lượng lao động thiếu việc làm cũng có thể là nguyên nhân gây ra những ảnh hưởng tiêu cực cho môi trường. Ví dụ: diện tích phá rừng tăng do nạn khai thác bừa bãi lâm sản như: chặt phá rừng, săn bắt động vật quý hiếm vì mục đích thương mại. Từ đó dẫn đến xuất hiện ngày càng nhiều đất trống, đồi trọc làm cho môi trường bị suy thoái nghiêm trọng, nạn lũ lụt, hạn hán thường xuyên xảy ra do rừng đầu nguồn bị chặt phá.
Thứ ba, tác động tiêu cực đến y tế, giáo dục. Dân số tăng nhanh, trẻ em chiến tỷ lệ tương đối lớn trong khi đất nước còn nghèo đã tạo sức ép nặng nề đối với lĩnh vực y tế, giáo dục. Tỷ lệ suy dinh dưỡng ở trẻ em vẫn còn cao, một số vùng núi cao chưa phổ cập xong chương trình tiểu học, số trẻ em bỏ học hoặc không được đến trường còn nhiều.
Thứ tư, tác động tiêu cực đến an ninh quốc phòng và các vấn đề xã hội khác. Dân số gia tăng đồng nghĩa với việc di dân do quá trình đô thị hoá đã để lại hệ quả tất yếu là khó kiểm soát về các lĩnh vực an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. Bên cạnh đó, sự xâm nhập của các trào lưu văn hoá ngoại do quá trình hội nhập quốc tế đã khiến một bộ phận thanh thiếu niên và lực lượng lao động trẻ thiếu việc làm rơi vào sa ngã. Tất cả các yếu tố này càng khiến xã hội diễn biến phức tạp hơn.
Thứ năm, gia tăng dân số quá nhanh dẫn đến gây áp lực cho nền kinh tế. Cung lớn hơn cầu dẫn đến tình trạng thất nghiệp, nghèo đói ở nhiều quốc gia. Trong khi chính phủ không có đủ nguồn chi cho các phúc lợi xã hội thì cuộc sống người dân lâm vào tình cảnh khốn khó.
4. Nguyên nhân của hiện tượng gia tăng dân số
Thứ nhất, do chênh lệch tỉ lệ sinh tử. Về bản chất, gia tăng dân số quá nhanh được hiểu là có sự chênh lệch đáng kể giữa tỷ lệ sinh và tử. Khi số người được sinh ra nhiều hơn số người mất đi thì dân số sẽ tăng. Thế giới trong giai đoạn phát triển đã tạo điều kiện cho sự gia tăng dân số. Điều kiện sống của con người được cải thiện, còn người sống thọ hơn, tỷ lệ sinh thì giữ nguyên, thậm chí còn tăng cao dẫn đến hiện tượng gia tăng dân số là không thể tránh khỏi.
Thứ hai, do quan niệm của từng quốc gia. Theo văn hoá phương Đông, người phương Đông có tư tưởng sinh nhiều con thì sẽ có lộc, con cháu đề huề. Chính quan niệm này đã một phần dẫn đến việc gia tăng dân số, đặc biệt, đây là quan niệm được truyền từ đời này sang đời khác, vốn đã đi sâu vào tiềm thức của người dân phương Đông.
Thứ ba, chính sách dân số và kế hoạch hoá gia đình chưa hiệu quả. Khi nhận thấy sự manh nha xuất hiện của hiện tượng gia tăng dân số, hầu hết các quốc gia đều thực hiện chính sách dân số và kế hoạch hoá gia đình nhằm giảm tỷ lệ sinh. Tuy nhiên, ở nhiều nơi, người dân chưa được tiếp cận cũng như chưa có đủ nhận thức về vấn đề này. Mặt khác, ở nhiều khu vực, chính sách cũng chưa được thực hiện một cách triệt để.
>> Tham khảo thêm: Cách tính mật độ dân số (người/km2) chính xác nhất?
Trên đây là những thông tin xoay quanh vấn đề gia tăng dân số, cũng như những nguyên nhân và hậu quả của hiện tượng này mà Luật Minh Khuê muốn cung cấp tới bạn đọc. Hy vọng bài viết này đã đem đến cho bạn những thông tin hữu ích. Xin chân thành cảm ơn!