1. Thế nào là truyện tranh?
Truyện tranh là một loại truyện quen thuộc với mọi lứa tuổi trong cuộc sống là dạng câu chuyện được kể dưới dạng hình ảnh hay chuỗi hình ảnh liên tục kết hợp với loại hình văn bản hay các hình ảnh khác truyền tải thông tin đến với người đọc sinh động, dễ hiểu nhất. Truyện tranh là một hình thức truyền tải thông điệp của người sáng tác đến người đọc một cách sinh động nhất, được kết hợp bằng nhiều hình ảnh khác nhau nối tiếp nhau nhằm biểu thị đoạn hội thoại tường thuật, hiệu ứng âm thanh hoặc thông tin khác. Có nhiều hình thức về truyện vẽ thành tranh phổ biến có thể kể đến các truyện sau : Truyện cười – dải truyện, truyện mang tính xã hội, truyện mang tính châm biếm - biếm họa, và tập truyện.
- Truyện tranh là một phương tiện được sử dụng để thể hiện ý tưởng bằng hình ảnh, thường là sự kết hợp giữa nghệ thuật tạo hình và văn học.
- Văn học không phải bao giờ cũng cần thiết, bởi loạt hình ảnh nối tiếp nhau, không cần lời chú thích cũng vẫn làm người xem hiểu được diễn biến câu chuyện và hành động của nhân vật.
- Truyện tranh không đơn thuần mang tính giải trí, nó còn truyền đạt thông điệp, các khái niệm trừu tượng của người sáng tác mà nhiều khi không thể diễn tả hết bằng lời. Truyện tranh là loại hình tác phẩm được pháp luật sở hữu trí tuệ bảo hộ quyền tác giả.
Ở Việt Nam, mảng truyện tranh cũng được khai thác và có rất nhiều tác phẩm được yêu thích như thần đồng đất Việt, các tập truyện về các quan trạng nổi tiếng thời xưa. Một số tác giả chuyển thể các tác phẩm văn học nổi tiếng được vẽ và chuyển thể thành truyện bằng tranh. Các tác phẩm truyện tranh được liệt kê vào các nhóm loại hình tác phẩm viết.
2. Đăng ký bản quyền truyện tranh được quy định như thế nào?
Theo quy định của Luật sở hữu trí tuệ năm 2005 được sửa đổi và bổ sung quy định về quyền tác giả. Theo đó, quyền tác giả là quyền của tổ chức, cá nhân đối với tác phẩm do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu. Quyền liên quan đến quyền tác giả hay là quyền liên quan; là quyền của tổ chức, cá nhân đối với cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng, tín hiệu vệ tinh mang chương trình được mã hóa. Bản quyền được sử dụng để mô tả quyền mà tác giả có đối với các tác phẩm văn học và nghệ thuật của họ. Các tác phẩm thuộc phạm vi bản quyền bao gồm từ sách, nhạc, tranh, điêu khắc và phim, đến các chương trình máy tính, cơ sở dữ liệu, quảng cáo, bản đồ và bản vẽ kỹ thuật.
Căn cứ theo quy định tại Điều 6 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 có quy định về căn cứ phát sinh, xác lập quyền sở hữu trí tuệ. Cụ thể, quyền tác giả phát sinh kể từ khi tác phẩm được sáng tạo và được thể hiện dưới một hình thức vật chất nhất định, không phân biệt nội dung, chất lượng, hình thức, phương tiện, ngôn ngữ, đã công bố hay chưa công bố, đã đăng ký hay chưa đăng ký. Quyền liên quan phát sinh kể từ khi cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng, tín hiệu vệ tinh mang chương trình được mã hoá được định hình hoặc thực hiện mà không gây phương hại đến quyền tác giả. Do đó, điều kiện đổi với tác phẩm được bảo hộ quyền tác giả:
- Tính sáng tạo của tác phẩm: là tác phẩm được tạo ra lần đầu tiên và trực tiếp bởi tác giả, không sao chép từ nguồn đã biết.
- Tác phẩm phải được thể hiện dưới hình thức vật chất nhất định.
Cũng theo đó, tại Điều 14 của Luật sở hữu trí tuệ năm 2005 được sửa đổi và bổ sung có quy định về các loại hình tác phẩm được bảo hộ quyền tác giả như:
- Tác phẩm văn học, nghệ thuật và khoa học được bảo hộ bao gồm:
+ Tác phẩm văn học, khoa học, sách giáo khoa, giáo trình và tác phẩm khác được thể hiện dưới dạng chữ viết hoặc ký tự khác. Tác phẩm thể hiện dưới dạng ký tự khác là tác phẩm thể hiện bằng chữ nổi cho người khiếm thị, ký hiệu tốc ký và các ký hiệu tương tự thay cho chữ viết mà các đối tượng tiếp cận có thể sao chép được bằng nhiều hình thức khác nhau.
+ Bài giảng, bài phát biểu và bài nói khác: là tác phẩm thể hiện bằng ngôn ngữ nói và phải được định hình dưới một hình thức vật chất nhất định. Trong trường hợp tác giả tự thực hiện việc định hình bài giảng, bài phát biểu, bài nói khác dưới hình thức bản ghi âm, ghi hình, thì tác giả được hưởng quyền tác giả đối với bài giảng, bài phát biểu, bài nói khác, đồng thời là chủ sở hữu quyền đối với bản ghi âm, ghi hình theo quy định của pháp luật;
+ Tác phẩm báo chí: là tác phẩm có nội dung độc lập và cấu tạo hoàn chỉnh, bao gồm các thể loại: Phóng sự, ghi nhanh, tường thuật, phỏng vấn, phản ánh, điều tra, bình luận, xã luận, chuyên luận, ký báo chí và các thể loại báo chí khác nhằm đăng, phát trên báo in, báo nói, báo hình, báo điện tử hoặc các phương tiện khác;
+ Tác phẩm âm nhạc: là tác phẩm được thể hiện dưới dạng nhạc nốt trong bản nhạc hoặc các ký tự âm nhạc khác hoặc được định hình trên bản ghi âm, ghi hình có hoặc không có lời, không phụ thuộc vào việc trình diễn hay không trình diễn;
+ Tác phẩm sân khấu: là tác phẩm thuộc loại hình nghệ thuật biểu diễn, bao gồm: Chèo, tuồng, cải lương, múa rối, kịch nói, kịch dân ca, kịch hình thể, nhạc kịch, xiếc, tấu hài, tạp kỹ và các loại hình nghệ thuật biểu diễn khác;
+ Tác phẩm điện ảnh và tác phẩm được tạo ra theo phương pháp tương tự: là tác phẩm được thể hiện bằng hình ảnh động kết hợp hoặc không kết hợp với âm thanh và các phương tiện khác theo nguyên tắc của ngôn ngữ điện ảnh;
+ Tác phẩm tạo hình, mỹ thuật ứng dụng: là tác phẩm được thể hiện bởi đường nét, màu sắc, hình khối, bố cục như: Hội họa, đồ họa, điêu khắc, nghệ thuật sắp đặt và các hình thức thể hiện tương tự, tồn tại dưới dạng độc bản. Riêng đối với loại hình đồ họa, có thể được thể hiện tới phiên bản thứ 50, được đánh số thứ tự có chữ ký của tác giả;
+ Tác phẩm nhiếp ảnh: là tác phẩm thể hiện hình ảnh thế giới khách quan trên vật liệu bắt sáng hoặc trên phương tiện mà hình ảnh được tạo ra, hay có thể được tạo ra bằng các phương pháp hóa học, điện tử hoặc phương pháp kỹ thuật khác;
+ Tác phẩm kiến trúc: là tác phẩm thuộc loại hình kiến trúc, bao gồm: Bản vẽ thiết kế kiến trúc về công trình hoặc tổ hợp các công trình, nội thất, phong cảnh; Công trình kiến trúc;
+ Bản họa đồ, sơ đồ, bản đồ, bản vẽ liên quan đến địa hình, kiến trúc, công trình khoa học bao gồm họa đồ, sơ đồ, bản đồ, bản vẽ liên quan đến địa hình, các loại công trình khoa học và kiến trúc;
+ Tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian: là sáng tạo tập thể trên nền tảng truyền thống của một nhóm hoặc các cá nhân nhằm phản ánh khát vọng của cộng đồng, thể hiện tương xứng đặc điểm văn hoá và xã hội của họ, các tiêu chuẩn và giá trị được lưu truyền bằng cách mô phỏng hoặc bằng cách khác. Tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian bao gồm: Truyện, thơ, câu đố; Điệu hát, làn điệu âm nhạc; Điệu múa, vở diễn, nghi lễ và các trò chơi; Sản phẩm nghệ thuật đồ hoạ, hội hoạ, điêu khắc, nhạc cụ, hình mẫu kiến trúc và các loại hình nghệ thuật khác được thể hiện dưới bất kỳ hình thức vật chất nào.
+ Chương trình máy tính, sưu tập dữ liệu: là tập hợp các chỉ dẫn được thể hiện dưới dạng lệnh, mã, lược đồ hoặc dạng khác, khi gắn vào một phương tiện, thiết bị được vận hành bằng ngôn ngữ lập trình máy tính thì có khả năng làm cho máy tính hoặc thiết bị thực hiện được công việc hoặc đạt được kết quả cụ thể. Chương trình máy tính được bảo hộ như tác phẩm văn học, dù được thể hiện dưới dạng mã nguồn hay mã máy. Tác giả và chủ sở hữu quyền tác giả đối với chương trình máy tính có quyền thỏa thuận bằng văn bản với nhau về việc sửa chữa, nâng cấp chương trình máy tính. Tổ chức, cá nhân có quyền sử dụng hợp pháp bản sao chương trình máy tính được làm một bản sao dự phòng để thay thế khi bản sao đó bị xóa, bị hỏng hoặc không thể sử dụng nhưng không được chuyển giao cho tổ chức, cá nhân khác.
- Tác phẩm phái sinh chỉ được bảo hộ theo quy định thì nếu không gây phương hại đến quyền tác giả đối với tác phẩm được dùng để làm tác phẩm phái sinh;
- Tác phẩm được bảo hộ quy định thì phải do tác giả trực tiếp sáng tạo bằng lao động trí tuệ của mình mà không sao chép từ tác phẩm của người khác.
3. Thủ tục để tiến hành đăng ký bản quyền truyện tranh
Bước 1: Nộp hồ sơ
Tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả, chủ sở hữu quyền liên quan trực tiếp hoặc ủy quyền cho tổ chức, cá nhân khác nộp 01 bộ hồ sơ đăng ký quyền tác giả, quyền liên quan tại Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch.
Hồ sơ đăng ký bản quyền truyện tranh bao gồm:
- Tờ khai đăng ký quyền tác giả, đăng ký quyền liên quan theo mẫu quy định;
- Hai bản sao tác phẩm đăng ký quyền tác giả hoặc hai bản sao bản định hình đối tượng đăng ký quyền liên quan;
- Giấy ủy quyền, nếu người nộp hồ sơ đăng ký quyền tác giả, đăng ký quyền liên quan là người được ủy quyền;
- Tài liệu chứng minh là chủ sở hữu quyền do tự sáng tạo hoặc do giao nhiệm vụ sáng tạo, giao kết hợp đồng sáng tạo, được thừa kế, được chuyển giao quyền;
- Văn bản đồng ý của các đồng tác giả, nếu tác phẩm có đồng tác giả;
- Văn bản đồng ý của các đồng chủ sở hữu, nếu quyền tác giả, quyền liên quan thuộc sở hữu chung.
Bước 2: Nhận hồ sơ
Cơ quan có thẩm quyền tiếp nhận và kiểm tra hồ sơ cho người nộp.
Bước 3: Trả kết quả
Trong thời hạn 15 ngày làm việc, kể từ ngày nhận hồ sơ hợp lệ, cơ quan quản lý nhà nước về quyền tác giả, quyền liên quan có trách nhiệm cấp Giấy chứng nhận đăng ký bnar quyền truyện tranh cho người nộp hồ sơ.
Trong trường hợp từ chối cấp Giấy chứng nhận đăng ký bản quyền tác phẩm thì cơ quan quản lý nhà nước về quyền tác giả, quyền liên quan phải thông báo bằng văn bản và nêu rõ lý do cho người nộp hồ sơ.
Trên đây là tư vấn của công ty Luật Minh Khuê muốn gửi tới khách hàng. Nếu quý khách hàng có bất kỳ vướng mắc hay câu hỏi pháp lý khác thì vui lòng liên hệ Tổng đài tư vấn pháp luật trực tuyến qua số hotline: 1900.6162 để được hỗ trợ và giải đáp thắc mắc kịp thời.