1. Khái niệm bệnh hiểm nghèo theo quy định của Bộ Y tế

Hiện nay, chưa có văn bản quy định thống nhất về định nghĩa và danh mục bệnh hiểm nghèo tại Việt Nam. Quy định về bệnh hiểm nghèo chủ yếu được quy định trong một số văn bản pháp lý cụ thể. Theo khoản 4 Điều 8 của Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP, bệnh hiểm nghèo là những bệnh mà bệnh viện cấp tỉnh hoặc bệnh viện quân đội cấp quân khu trở lên xác định là nguy hiểm đến tính mạng và khó có phương thức chữa trị.

Ví dụ, các bệnh như ung thư giai đoạn cuối, xơ gan cổ trướng, lao nặng độ 4 kháng thuốc, bại liệt, suy tim độ 3, và suy thận độ 4 trở lên được xem là bệnh hiểm nghèo. Bên cạnh đó, HIV giai đoạn AIDS với các nhiễm trùng cơ hội và nguy cơ tử vong cao cũng thuộc danh mục này. Tương tự, khoản 4 Điều 3 của Nghị định 140/2021/NĐ-CP cũng quy định các bệnh hiểm nghèo với nội dung gần như tương đồng, bao gồm ung thư giai đoạn cuối, bại liệt, phong hủi, lao đã kháng thuốc, xơ gan cổ trướng, suy tim độ 3 trở lên, suy thận độ 4 trở lên, và HIV giai đoạn AIDS. Đồng thời, nghị định này cho phép các bệnh khác được xác nhận bởi cơ sở khám bệnh, chữa bệnh từ tuyến huyện trở lên theo quy định của Bộ Y tế.

 

2. Cơ sở pháp lý

Danh mục bệnh hiểm nghèo được quy định tại Phụ lục IV của Nghị định 134/2016/NĐ-CP, ngày 01 tháng 9 năm 2016 của Chính phủ, bao gồm các bệnh lý nghiêm trọng và nguy hiểm đến tính mạng. Danh mục này được lập nhằm hỗ trợ các bệnh nhân trong việc tiếp cận dịch vụ y tế và bảo hiểm, đồng thời giúp xác định các chế độ trợ cấp và hỗ trợ tài chính. Nội dung của danh mục được cập nhật định kỳ để đảm bảo phù hợp với thực tiễn và nhu cầu của người dân.

 

3. Nội dung của danh mục bệnh hiểm nghèo

Tại Phụ lục IV ban hành kèm theo Nghị định 134/2016/NĐ-CP quy đinh danh mục các bệnh hiểm nghèo như sau:

1. Ung thư

16. Teo cơ tiến triển

30. Bệnh Lupus ban đỏ

2. Nhồi máu cơ tim lần đầu

17. Viêm đa khớp dạng thấp nặng

31. Ghép cơ quan (ghép tim, ghép gan, ghép thận)

3. Phẫu thuật động mạch vành

18. Hoại thư do nhiễm liên cầu khuẩn tan huyết

32. Bệnh lao phổi tiến triển

4. Phẫu thuật thay van tim

19. Thiếu máu bất sản

33. Bỏng nặng

5. Phẫu thuật động mạch chủ

20. Liệt hai chi

34. Bệnh cơ tim

6. Đột quỵ

21. Mù hai mắt

35. Bệnh Alzheimer hay sa sút trí tuệ

7. Hôn mê

22. Mất hai chi

36. Tăng áp lực động mạch phổi

8. Bệnh xơ cứng rải rác

23. Mất thính lực

37. Bệnh rối loạn dẫn truyền thần kinh vận động

9. Bệnh xơ cứng cột bên teo cơ

24. Mất khả năng phát âm

38. Chấn thương sọ não nặng

10. Bệnh Parkinson

25. Thương tật toàn bộ và vĩnh viễn

39. Bệnh chân voi

11. Viêm màng não do vi khuẩn

26. Suy thận

40. Nhiễm HIV do nghề nghiệp

12. Viêm não nặng

27. Bệnh nang tủy thận

41. Ghép tủy

13. U não lành tính

28. Viêm tụy mãn tính tái phát

42. Bại liệt

14. Loạn dưỡng cơ

29. Suy gan

 

15. Bại hành tủy tiến triển

 

Theo Điều 22 của Luật Bảo hiểm y tế năm 2008, quy định về mức hưởng bảo hiểm y tế (BHYT) đối với người mắc bệnh hiểm nghèo được phân chia cụ thể. Đối với sĩ quan, hạ sĩ quan nghiệp vụ và sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên môn, kỹ thuật đang công tác trong lực lượng Công an nhân dân, người có công với cách mạng và trẻ em dưới 6 tuổi, quỹ BHYT sẽ thanh toán 100% chi phí khám bệnh, chữa bệnh. Tương tự, nếu chi phí khám bệnh, chữa bệnh cho một lần khám thấp hơn mức quy định của Chính phủ hoặc được thực hiện tại tuyến xã, người bệnh cũng được hưởng 100% chi phí.

Đối với người hưởng lương hưu, trợ cấp mất sức lao động hàng tháng, người thuộc diện trợ cấp bảo trợ xã hội hàng tháng, hộ gia đình nghèo và người dân tộc thiểu số sống tại vùng có điều kiện kinh tế – xã hội khó khăn hoặc đặc biệt khó khăn, mức thanh toán là 95% chi phí khám bệnh, chữa bệnh. Các đối tượng khác được thanh toán 80% chi phí khám bệnh, chữa bệnh. Lưu ý rằng nếu một người thuộc nhiều đối tượng tham gia BHYT, họ sẽ được hưởng quyền lợi theo đối tượng có mức quyền lợi cao nhất.

Việc trợ cấp cho người mắc bệnh hiểm nghèo có nhiều quy định khác nhau tùy theo từng đối tượng và hoàn cảnh cụ thể. Đối với người lao động đang làm việc và có tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc, khi mắc các bệnh hiểm nghèo cần điều trị kéo dài nhiều ngày, họ sẽ được hưởng chế độ ốm đau để bù đắp phần thu nhập bị mất, theo quy định tại Điều 23 và Điều 25 của Luật Bảo hiểm xã hội. Ngoài ra, những bệnh nhân mắc bệnh ung thư, phải chạy thận nhân tạo, mổ tim, hoặc các bệnh lý khác với chi phí điều trị cao mà không đủ khả năng chi trả sẽ được hỗ trợ thanh toán một phần viện phí từ 1 triệu đồng trở lên. Trường hợp người bệnh chọn cơ sở khám chữa bệnh khác, việc thanh toán viện phí sẽ được thực hiện theo quy định hiện hành.

Theo Điều 6 của Thông tư số 158/2011/TT-BQP do Bộ Quốc phòng ban hành, cán bộ quân đội đã nghỉ hưu mắc bệnh hiểm nghèo sẽ được Ban chỉ huy quân sự cấp tỉnh công nhận và cấp trợ cấp hàng quý. Tuy nhiên, nếu cán bộ qua đời, trợ cấp sẽ ngừng từ quý tiếp theo. Mặc dù các quy định hiện hành đảm bảo người mắc bệnh hiểm nghèo được hưởng trợ cấp theo quy định của Nhà nước, nhưng quy trình thủ tục hành chính khá phức tạp, đòi hỏi người bệnh phải xuất trình nhiều giấy tờ và thực hiện nhiều bước khác nhau. Thêm vào đó, mức trợ cấp hiện tại chưa thực sự đáp ứng đủ nhu cầu chi trả phí khám chữa bệnh hiểm nghèo, do các bệnh này thường đòi hỏi phương pháp điều trị đặc biệt và thuốc men kéo dài, dẫn đến chi phí chữa trị cao và khó khăn.

 

4. Ý nghĩa và tác động của danh mục bệnh hiểm nghèo

Danh mục bệnh hiểm nghèo mang lại ý nghĩa và tác động sâu rộng đến nhiều đối tượng trong hệ thống y tế. Đối với người bệnh, danh mục này không chỉ xác định quyền lợi được hưởng mà còn hỗ trợ quan trọng trong quá trình điều trị. Cụ thể, việc xác định rõ các bệnh hiểm nghèo giúp người bệnh nắm bắt được quyền lợi BHYT mà họ được hưởng, từ việc thanh toán chi phí khám bệnh, chữa bệnh theo tỷ lệ quy định đến việc được tiếp cận với các phương pháp điều trị cần thiết. Điều này đặc biệt quan trọng khi người bệnh đối mặt với các bệnh lý nặng, giúp họ giảm bớt gánh nặng tài chính và tiếp cận dịch vụ y tế kịp thời, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống và cơ hội chữa trị hiệu quả.

Đối với các cơ sở y tế, danh mục bệnh hiểm nghèo cung cấp hướng dẫn rõ ràng trong việc chẩn đoán và điều trị. Sự rõ ràng này giúp các bác sĩ và nhân viên y tế chuẩn hóa quy trình điều trị cho các bệnh nhân mắc bệnh hiểm nghèo, từ đó nâng cao chất lượng dịch vụ và hiệu quả điều trị. Hơn nữa, danh mục cũng đóng vai trò quan trọng trong việc cơ sở y tế thực hiện thanh toán bảo hiểm, đảm bảo các khoản chi phí khám chữa bệnh được thanh toán đúng mức và đúng quy định.

Đối với các cơ quan quản lý, danh mục bệnh hiểm nghèo là căn cứ quan trọng để xây dựng và điều chỉnh chính sách y tế. Danh mục giúp các cơ quan quản lý nắm bắt được các vấn đề sức khỏe đang nổi cộm và cần ưu tiên, từ đó thiết lập các chương trình y tế phù hợp và hiệu quả. Bên cạnh đó, việc theo dõi và đánh giá danh mục bệnh hiểm nghèo còn giúp các cơ quan này đánh giá hiệu quả của các chương trình y tế hiện hành, từ đó cải thiện và điều chỉnh chính sách nhằm đáp ứng tốt hơn nhu cầu của người dân.

Xem thêm bài viết: Con đẻ dưới 18 tuổi mắc bệnh hiểm nghèo mẹ đẻ có được giảm án phạt tù không?

Khi quý khách có thắc mắc về quy định pháp luật, vui lòng liên hệ đến hotline 19006162 hoặc gửi thư tư vấn đến địa chỉ email: lienhe@luatminhkhue.vn để được tư vấn.