Những tác động này được phân tích chi tiết hơn thông qua việc xem xét trường hợp các nước ASEAN. Nội dung của bài viết trước hết phân tích khái niệm và các hình thức của di chuyển quốc tế về lao động, từ đó phân tích khung lý thuyết về di chuyển lao động quốc tế, bao gồm: Các lý thuyết kinh tế vi mô; Các lý thuyết tân cổ điển; Các lý thuyết kinh tế mới và thị trường lao động kép/phân đoạn; Lý thuyết mạng lưới; Lý thuyết hệ thống di cư. Tiếp đó, đề cập thực trạng di chuyển quốc tế về lao động những năm đầu thế kỉ XXI và cuối cùng trình bày về di chuyển lao động trong khuôn khổ ASEAN.

 

1. Khái niệm về di cư, nhập cư

Có nhiều quan niệm khác nhau về di cư nói chung và di cư quốc tế nói riêng. Theo định nghĩa trong Từ điển tiếng Anh Oxford, “dân di cư” là người di chuyển tạm thời hoặc vĩnh viễn từ một nơi/khu vực/quốc gia tới địa điểm khác. Người ta có nhiều lý do để di cư như kiếm việc hoặc mưu cầu một cuộc sóng tốt hơn. Đó là trường hợp “di dân kinh tế”. Ngoài ra, dân di cư còn gồm những người chuyển nơi ở vì lý do gia đình hay học tập. Những người chạy trốn xung đột hay ngược đãi là “dân tị nạn”. Hiện nay, có những tranh luận và quan điểm khác nhau về hai thuật ngữ “dân di cư” và “dân nhập cư”. Di cư có thể hiểu là hành động di chuyển của người dân từ vùng này sang vùng khác. Trong khi đó, nhập cư được xác định là hành động di chuyển tới quốc gia khác với ý định sống ở đó vĩnh viễn. Theo Tổ chức Di cư quốc tế (International Organization for Migration - IOM), nhập cư là “quá trình những người không phải công dân của quốc gia tiếp nhận di chuyển tới quốc gia đó với mục đích định cư”.

Có nhiều quan niệm khác nhau về di cư nói chung và di cư quốc tế nói riêng, bao gồm cả về lĩnh vực pháp lý, hành chính, nghiên cứu và thống kê... Không có định nghĩa chung nào được thống nhất về di cư hay người di cư, nhưng có một số định nghĩa được chấp nhận rộng rãi và đã được sử dụng ở nhiều lĩnh vực khác nhau. IOM nêu rõ, di cư quốc tế là hình thức di chuyển qua biên giới của một hoặc một vài quốc gia, dẫn tới sự thay đổi tình trạng pháp lý của một cá nhân. Xét theo phạm vi di chuyển quốc tế, tác giả Đặng Nguyên Anh cũng đưa ra khái niệm: “Di cư quốc tế là sự di dời người từ quốc gia này sang mệt quốc gia khác để lao động, học tập, cư trú hoặc nhằm tìm noi ẩn náu nhằm tránh sự trừng phạt hoặc thiên tai, bạo loạn chính trị, xung đột vũ trang. Di cư ra nước ngoài là một phần của di cư quốc tế, liên quan đến sự ra đi của công dân từ một quốc gia, vùng lãnh thổ”.

Dựa trên những tiêu chí khác nhau, có thể phân chia người di cư thành những dạng khác nhau. Có một số cách phân loại di cư chủ yếu sau:

Theo nghiên cứu của Jennissen (2004), có 4 loại hình di cư chính, đó là: (i) Di cư lao động; (ii) Di cư hồi hương; (iii) Đi cư chuỗi; và (iv) Di cư tị nạn. Di cư lao động được xác định là sự di chuyển qua biên giới của người lao động sang nước khác. Neu người di cư quốc tế có ý định trở lại quốc gia mà họ mang quốc tịch sau khi sinh sống như người di cư quốc tế tại nước ngoài, và ở lại đất nước của chính họ trong vòng ít nhất 1 năm, thì những người này được gọi là người di cư hồi hương. Những cá nhân di chuyển từ quốc gia này sang quốc gia khác để đoàn tụ gia đình và lập gia đình được xem là những người di cư chuỗi. Những người khi tới quốc gia khác để tìm kiếm nơi tị nạn được xem là những người di cư tị nạn.

Theo Bell, Alves, de Oliveira và Zuin (2010) xác định có 3 loại di cư quốc tế chủ yếu, đó là: (i) Di cư lao động; (ii) Di cư cưỡng bức; (iii) Di cư hưu trí quốc tế. Di cư lao động liên quan đến hoạt động di cư của những lao động có kĩ năng cao, không có kĩ năng, lương thấp và tạm thời. Di cư cưỡng bức gồm những người tị nạn và xin tị nạn vượt biên sang quốc gia khác do xung đột và bất ổn chính trị, và những người phải đi sang nước khác khi bị mất nhà cửa do thảm họa thiên tai và các dự án xây dựng. Di cư hưu trí quốc tế là khi người về hưu mua bất động sản ở nước ngoài để làm nơi cư trú.

Sự phân loại phổ biến khác đó là di cư cưỡng bức và di cư tự nguyện. Những người di chuyển từ quốc gia này sang quốc gia khác để xin tị nạn, những người tị nạn và những người di tản nội bộ được xem là những người di cư cưỡng bức, trong khi những người phải di cư do những mục đích khác được xem là người di cư tự nguyện. Những người di cư cưỡng bức không có lựa chọn nào khác ngoài việc phải di chuyển sang quốc gia khác do những nguyên nhân mà họ gặp phải tại quốc gia của mình, trong khi những người di cư tự nguyện thì di chuyển nhằm tìm kiếm lợi ích cá nhân.

Ngoài các cách phân loại trên, nhiều thuật ngữ khác nhau được sử dụng để xác định các loại hình khác nhau của di cư. Thuật ngữ phổ biến nhất là di cư kinh tế. Đây được xác định là những người quyết định di chuyển từ quốc gia này sang quốc gia khác nhằm cải thiện mức sống cá nhân thông qua việc có được công việc có thu nhập cao hơn và các điều kiện tốt hơn. Trong di cư kinh tế, ưu tiên được hướng tới là lợi ích về kinh tế. Thuật ngữ khác được dùng phổ biến đó là di cư chính trị, là những người di chuyển từ một quốc gia sang quốc gia khác do các cuộc nội chiến và phân biệt đối xử chính trị tại quốc gia quê nhà. Hiện nay, di cư môi trường cũng đã trở thành thuật ngữ phổ biến được sử dụng. Những người di cư vì môi trường là những người rời khỏi quốc gia của mình do các điều kiện môi trường như vấn đề sa mạc hóa, mực nước biển tăng lên và hạn hán. Theo quan điểm trên, có thể nhận thấy rằng các loại hình của di cư quốc tế đang thay đổi theo thời gian. Nguyên nhân là các nhà nghiên cứu xác định các loại hình mới của di cư dựa trên sự nổi lên của các nhân tố kéo và đẩy. Vì vậy, di cư là chủ đề tiếp tục thay đổi cùng với sự biến đổi của các điều kiện kinh tế - xã hội và địa chính trị.

Tóm lại, tùy theo đối tượng nghiên cứu cụ thể và bối cảnh của các giai đoạn phát triển của kinh tế - xã hội thế giới, di chuyển lao động quốc tế sẽ được định nghĩa cho phù hợp.

 

2. Khái niệm lao động quốc tế

Như đã đề cập ở trên, có nhiều hình thức di cư khác nhau, trong đó có hình thức mà những người trong độ tuổi lao động di chuyển ra khỏi quốc gia của họ và tới một quốc gia khác, thường được gọi là lao động di cư quốc tế.

“Di chuyển lao động quốc tế là việc người lao động nước này di chuyển sang nước khác vì những mục đích kiếm việc làm hoặc kiếm sống hay nói cách khác là vì lý do kinh tế nhất định”.

Những lao động nước ngoài đến làm việc tại một quốc gia còn được gọi là “lao động di trú” (migrant worker). Trong hệ thống văn kiện quốc tế về lao động di trú, Công ước quốc tế về quyền của người lao động di trú và các thành viên trong gia đình họ được coi là một trong những điều ước quan trọng nhất. Công ước này được Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua ngày 18/12/1990 theo Nghị quyết A/RES/45/158, có hiệu lực từ ngày 01/7/2003. Theo Công ước này, thuật ngữ “lao động di trú” để chỉ một người đã, đang và sẽ làm một công việc có hưởng lưomg tại một quốc gia mà người đó không phải là công dân (khoản 1 Điều 2). Điều 5 Công ước này chia người lao động di trú và các thành viên trong gia đình họ thành hai loại: (i) Có giấy tờ hợp pháp (hoặc hợp pháp); và (ii) Không có giấy tờ (hoặc bất hợp pháp).

Trong đó, dạng (i) là những người được một nước cho phép vào, ở lại và làm một công việc được trả lưoụg tại quốc gia đó, còn dạng (ii) là những người không được trao các quyền tương tự.

 

3. Khung lý thuyết về di chuyển lao động quốc tế

Trong lịch sử, đã có nhiều cách tiếp cận khác nhau được phát triển để xem xét và giải thích nguyên nhân vì sao người lao động phải di cư sang nước khác. Dưới đây là những nội dung cơ bản về một số học thuyết chủ yếu liên quan đến lao động di cư quốc tế.

 

3.1 Các lý thuyết kinh tế vi mô

Ravenstein (1889, 1976) đã sử dụng các luật về hành vi, dựa trên các bằng chứng thực chứng thu nhận được trong thế kỉ XIX, để giải thích vì sao con người có xu hướng di chuyển từ nơi có dân số đông tới nơi có ít người hơn, từ nơi nghèo hơn tới nơi giàu có hơn, và từ khu vực có lương thấp tới nơi có lương cao hơn. Ông kết luận rằng di cư chịu tác động của nhiều điều kiện kinh tế thuận lợi và bất lợi khác nhau tạo ra lực đấy và lực kéo cá nhân hoặc người dân nói chung theo những hướng nhất định. Sau đó, các lý thuyết tổng quát tiếp tục giải thích thêm (hoặc có thể là mô tả) về di cư theo hướng đơn giản là các nhân tố kéo và đẩy. Các nhân tố đấy là những nhân tố thúc đẩy người dân rời bỏ quốc gia mà họ sinh ra (hoặc nơi mà họ hiện đang sinh sống) như sụ áp bức về chính trị, điều kiện sống nghèo nàn, cơ hội về kinh tế thấp. Các nhân tố kéo thu hút người dân tới một nơi khác, bao gồm nhu cầu về lao động, cơ hội để có mức sống cao hơn, tự do về chính trị.

 

3.2 Các lý thuyết tân cổ điển

Trong kinh tế học tân cổ điển, cách tiếp cận có xu hướng xem xét các nhân tố kinh tế là tối quan trọng (nghèo đói như một nhân tố đẩy, các cơ hội kinh tế tốt hơn như một nhân tố kéo), và dựa trên mô hình lựa chọn hợp lý về hành vi con người, trong đó thừa nhận sự tồn tại của các cá nhân tối đa hóa lợi ích, những người xem xét chi phí và lợi ích của nhiều tùy chọn khác nhau sau đó đưa ra lựa chọn cá nhân của riêng họ trước khi hành động. Di cư xảy ra là do kết quả của quá trình phát triển kinh tế và khác biệt về tiền lương.

Ngoài sự khác biệt về tiền lương và cơ hội việc làm, hành vi di cư cũng bao gồm việc xem xét các chi phí tài chính như: chi phí đi lại; thời gian thất nghiệp tại quốc gia tiếp nhận; và các chi phí tâm lý (rời bỏ gia đình và bạn bè). Vì vậy, khác biệt trong khoản nhận được dự kiến khi so sánh di cư sang quốc gia khác và ở lại quê nhà càng lớn, thì quy mô của các dòng di cư cũng sẽ càng lớn.

 

3.3 Các lý thuyết kinh tế mới và thị trường lao động kép/phân đoạn

Những lý thuyết kinh tế mới về di cư thừa nhận cũng có những biện pháp can thiệp (mạng lưới gia đình và bạn bè, những người giúp đỡ người di cư trong cộng đồng mới, hoặc những người trung gian, môi giới lao động, người tuyển dụng) nhưng vẫn có xu hướng dựa trên các lý thuyết kéo và đẩy và quyền quyết định của chúng, và xem những mạng lưới này đơn thuần là những lực thúc đẩy hoặc cản trở.

Các lý thuyết về thị trường lao động kép xem xét nền kinh tế của các nước phát triển như là phân tách hoặc phân đoạn của một bên là công việc an toàn và được trả lương cao, và một bên khác là công việc tạm thời, thiếu an toàn (thị trường lao động thứ cấp). Người nhập cư kĩ năng thấp (và phần lớn là không có giấy tờ hợp pháp) sẽ đảm nhiệm những công việc thuộc nhóm thấp nhất trong phân tàng xã hội và nhũng công việc có mức lương thấp, nơi mà người lao động bản xứ không quan tâm. Theo Piore (1979), không phải các nhân tố đẩy (mức lương thấp) khiến người dân di cư, mà chính là những nhân tố kéo đã gây ra di cư trong nội địa và quốc tế.

 

3.4 Lý thuyết mạng lưới

Lý thuyết này xem mạng lưới di cư là một khái niệm liên quan đến vốn xã hội. Arango (2000) định nghĩa mạng lưới di cư là một bộ các quan hệ cá nhân kết nối người di cư với người thân, bạn bè hoặc đồng hương ở quê nhà, những người truyền đạt thông tin, cung cấp hỗ trợ tài chính và tạo điều kiện tìm kiếm cơ hội việc làm và chỗ ở theo nhiều cách khác nhau. Những mạng lưới này giúp làm giảm chi phí và rủi ro khi con người di chuyển, và tăng lợi ích kì vọng của việc di cư. Hơn nữa, Vertovec (2002), Dustmann và Glitz (2005) cho rằng cộng đồng người di cư và các mạng lưới khác có khả năng ảnh hưởng đến người di cư khi họ lựa chọn điểm đến. Các kết nối mạng lưới là một hình thức vốn xã hội cho phép tiếp cận rộng rãi với việc làm ở nước ngoài.

 

3.4 Lý thuyết hệ thống di cư

De Haas (2010) đã xác định lý thuyết mạng lưới gắn kết chặt chẽ với lý thuyết hệ thống di cư. Hom nữa, trọng tâm của phưomg pháp tiếp cận hệ thống là cả về mối liên kết vĩ mô và vi mô của các địa điểm liên quan đến quá trình di cư. Các nhân tố vĩ mô bao gồm hệ thống bạn bè và người thân, trong khi các nhân tố vi mô tập trung vào hệ thống kinh tế, chính trị, các chính sách quốc gia về nhập cư và hệ thống văn hóa - xã hội. Lý thuyết hệ thống di cư tập trung vào mối liên hệ lẫn nhau giữa di cư và phát triển.

Như vậy, mỗi một lý thuyết khác nhau, học thuyết khác nhau lại đưa ra những giải thích khác nhau về nguyên nhân di chuyển lao động quốc tế. Các nguyên nhân của sự di chuyển lao động quốc tế có thể xuất phát từ những nhân tố kéo hoặc đẩy, do xem xét chênh lệch giữa lợi ích và chi phí khi di cư, do sự phân bổ không công bằng trên toàn cầu hoặc do ảnh hưởng của gia đình và cộng đồng...

Luật Minh Khuê (tổng hợp)