- 1. Số người được chở tối đa trên xe máy
- 1.1. Quy định pháp luật về số người được chở tối đa trên xe máy
- 1.2. Điều khiển xe máy chở theo 02 người lớn có bị coi là chở quá số người quy định không?
- 2. Mức phạt đối với hành vi điều khiển xe máy chở quá số người quy định
- 3. Biện pháp xử lý trong trường hợp điều khiển xe máy chở theo 02 người lớn gây ra thiệt hại
Căn cứ theo Nghị định 100/2019/NĐ-CP của Chính phủ ngày 30 ngày 12 năm 2019 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt.
Quy định cụ thể như sau:
Hành vi trên bị xử phạt theo quy định tại điểm l khoản 2 Điều 6 Nghị định 100/2019/NĐ- CP:
2. Phạt tiền từ 200.000 đồng đến 300.000 đồng đối với người điều khiển xe thực hiện hành vi vi phạm sau đây:
1) Chở theo 02 người trên xe, trừ trường hợp chở người bệnh đi cấp cứu, trẻ em dưới 14 tuổi, áp giải người có hành vi vi phạm pháp luật;
Như vậy trừ trường hợp chở người bệnh đi cấp cứu, trẻ em dưới 14 tuổi, áp giải người có hành vi vi phạm pháp luật thì người đi xe máy chở theo 2 người bị phạt từ 200.000 đến 300.000 đồng.
Luật Minh Khuê phân tích chi tiết quy định pháp luật về vấn đề trên như sau:
1. Số người được chở tối đa trên xe máy
1.1. Quy định pháp luật về số người được chở tối đa trên xe máy
Khi thực hiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông, người điều khiển xe và người ngồi trên xe đều phải tuân thủ các quy định pháp luật về an toàn giao thông, trong đó, phải đặc biệt đảm bảo số người tối đa được chở trên cùng một phương tiện. Căn cứ vào khoản 1 Điều 30 của Luật giao thông đường bộ năm 2008 thì người điều khiển xe mô tô hai bánh, xe gắn máy chỉ được chở thêm một người. Tuy nhiên, người điều khiển xe mô tô hai bánh, xe gắn máy được phép chở thêm tối đa hai người nữa khi thuộc một trong ba trường hợp đặc biệt sau:
- Chở người bệnh đi cấp cứu;
- Áp giải người có hành vi vi phạm pháp luật;
- Trẻ em dưới 14 tuổi.
Theo đó, trong trường hợp thông thường, trên xe máy chỉ có tối đa là 02 người ngồi, tính cả người điều khiển phương tiện. Các trường hợp chở quá số người quy định thì cũng chỉ được phép tối đa là 03 người ngồi (tính cả người điều khiển xe và thêm 02 người) khi thuộc vào những trường hợp đặc biệt nêu trên. Nếu thuộc vào trường hợp đặc biệt đó thì hành vi chở ba sẽ không bị tính là hành vi vi phạm. Còn nếu không thì việc chở quá số người quy định là đang vi phạm về trật tự, an toàn giao thông.
Quy định về số người tối đa được phép chở của xe máy nhằm đảm bảo an toàn cho bản thân những người điều khiển và ngồi trên xe khi tham gia giao thông. Đồng thời, quy định này còn đảm bảo cả sự an toàn cho những người cùng tham gia giao thông khác. Cũng như việc điều khiển phương tiện đảm bảo trật tự chung, các hiệu quả sử dụng phương tiện tham gia giao thông.
1.2. Điều khiển xe máy chở theo 02 người lớn có bị coi là chở quá số người quy định không?
Chở quá số người quy định được hiểu là hành vi mà người điều khiển phương tiện giao thông (có thể là xe mô tô hai bánh, xe gắn máy, xe ô tô, ...) mà chở quá số người được phép ngồi trên phương tiện được quy định trong văn bản pháp luật đối với từng loại xe khác nhau.
Đối với phương tiện là xe mô tô hai bánh, xe gắn máy thì trong điều kiện thông thường, số lượng người ngồi trên xe, tính cả người điều khiển xe chỉ được tối đa là 02 người. Trong trường hợp đặc biệt thuộc vào trường hợp đặc biệt được quy định tại khoản 1 Điều 30 Luật giao thông đường bộ năm 2008 thì số lượng người tối đa trên xe là 03 người, tính cả người điều khiển xe. Khi số người thực tế ngồi trên xe lớn hơn số người tối đa trong hai khả năng nêu trên thì sẽ bị coi là chở quá số người quy định. Đây là một trong những hành vi vi phạm an toàn giao thông. Căn cứ vào từng trường hợp số lượng người ngồi trên vượt quá quy định mà hình thức xử phạt vi phạm hành chính sẽ được áp dụng khác nhau.
Trong trường hợp người điều khiển xe máy thực hiện hành vi vi phạm "chở quá số người quy định" và chủ của xe máy là hai người khác nhau thì theo quy định của pháp luật, đối tượng bị phạt sẽ không chỉ là người điều khiển xe mà chủ của xe cũng không thể tránh khỏi trách nhiệm trong việc vi phạm này. Bởi hành vi giao xe cho người khác sử dụng này không đảm bảo yếu tố an toàn và vì giao xe cho người khác nên đã để hành vi vi phạm xảy ra.
Cụm từ "người lớn" trong trường hợp điều khiển xe máy chở theo 02 người lớn này được hiểu là người đã ở độ tuổi trường thành, được coi là người đứng đắn, đủ tư cách. Pháp luật không có đưa ra khái niệm "người lớn" trong văn bản pháp luật nào, nên ta có thể hiểu khái quát cụm từ "người lớn" là chỉ những người đã qua tuổi vị thành niên, tức là từ 18 tuổi trở lên.
Như vậy, hành vi chở theo 02 người lớn được nêu trên được xác định là theo hai trường hợp:
- Trường hợp 1: Chở theo 02 người lớn trong trường hợp thông thường thì hành vi này được xác định là hành vi vi phạm an toàn giao thông và người thực hiện hành vi vi phạm sẽ bị áp dụng biện pháp xử phạt.
- Trường hợp 2: Chở theo 02 người lớn nhưng thuộc vào trường hợp là chở người bệnh đi cấp cứu hoặc áp giải người có hành vi vi phạm pháp luật. Trong trường hợp này, hành vi chở theo 02 người lớn lại không bị coi là hành vi vi phạm an toàn giao thông và người thực hiện hành vi không bị áp dụng biện pháp xử phạt.
2. Mức phạt đối với hành vi điều khiển xe máy chở quá số người quy định
Hành vi điều khiển xe máy (gồm xe mô tô hai bánh, xe gắn máy,xe máy điện, các loại xe tương tự xe mô tô và các loại xe tương tự xe gắn máy) chở quá số người quy định đang được xác định là hành vi vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ và cần phải được áp dụng các biện pháp xử phạt.
Biện pháp xử phạt chính
Người thực hiện hành vi vi phạm chở quá người quy định sẽ bị tiến hành xử lý phạt tiền theo các điều khoản sau: điểm l khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 6 Nghị định số 100/2019/NĐ-CP ngày 30/12/2019 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt; điểm k khoản 34 Điều 2 Nghị định số 123/2021/NĐ-CP ngày 28/12/2021 xử phạt hành chính giao thông đường bộ, đường sắt, hàng hải, hàng không. Cụ thể như sau:
- Đối với hành vi đi xe máy "kẹp 3" (tức là 1 người điều khiển xe và 2 người ngồi sau) thì người điều khiển xe sẽ bị phạt tiền từ 300.000 đồng đến 400.000 đồng.
- Đối với hành vi đi xe máy "kẹp 4" (tức là 1 người điều khiển xe và từ 3 người ngồi phía sau) thì người điều khiển xe sẽ bị phạt tiền 400.000 đồng đến 600.000 đồng.
Do đó, hành vi điều khiển xe máy chở thêm 02 người lớn trên xe khi không thuộc vào trường hợp được loại trừ là chở người bệnh đi cấp cứu hoặc áp giải người vi phạm pháp luật thì hành vi này sẽ được xử lý như hành vi đi xe máy "kẹp 3" nêu trên .
Ở đây, phải xem xét cả quy định xử phạt có quy định độ tuổi của người được chở theo trên xe. Theo đó, 02 người được chở theo là người lớn, không phải là trẻ em dưới 14 tuổi nên cũng không thuộc vào trường hợp không bị xử phạt. Với số lượng 03 người cùng ngồi trên phương tiện, không đảm bảo yếu tố an toàn khi tham gia giao thông. Do đó mà hành vi này đang vi vi phạm, phải bị xử phạt theo quy định.
Trong trường hợp này, người điều khiển phương tiện có thể bị xử phạt từ 300.000 đồng đến 400.000 đồng. Khoảng dao động này nhằm đánh giá, xác định hành vi, tính chất cũng như mức độ vi phạm. Nếu số người chở theo phương tiện càng nhiều thì sẽ càng khiến sự an toàn của những người tham gia giao thông bị ảnh hưởng, gây mất trật tự giao thông. Cũng như căn cứ trên thái độ của người vi phạm cũng là một căn cứ để xác định khoản tiền nộp phạt thực tế.
Thông thường, mức phạt tiền cụ thể mà người thực hiện các hành vi vi phạm hành chính được xác định là mức trung bình của khung phạt tiền được quy định đối với hành vi đó; trong trường hợp có từ 02 tình tiết giảm nhẹ trở lên thì áp dụng mức tối thiểu của khung tiền phạt; nếu có từ 02 tình tiết tăng nặng trở lên thì áp dụng mức tối đa của khung tiền phạt (căn cứ vào khoản 4 Điều 23 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012; khoản này được sửa đổi bởi khoản 9 Điều 1 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2020 và được hướng dẫn bởi điểm b khoản 1 Điều 9 Nghị định số 118/2021/NĐ-CP ngày 23/12/2021 quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật xử lý vi phạm hành chính). Theo đó, hành vi vi phạm điều khiển xe máy và chở theo 02 người lớn không thuộc trường hợp đặc biệt có thể bị xử phạt ở mức tiền trung bình, tức là 350.000 đồng.
Nói tóm lại, hành vi vi phạm chở theo 02 người lớn khi điều khiển xe máy có thể bị xử phạt từ 300.000 đồng đến 400.000 đồng. Hình thức phạt tiền này là hình thức xử lý đối với vi phạm hành chính.
Biện pháp xử phạt bổ sung
Ngoài việc bị phạt tiền thì người điều khiển xe thực hiện hành vi vi phạm còn bị áp dụng các hình thức xử phạt bổ sung. Cụ thể, trong trường hợp điều khiển xe máy chở theo 02 người lớn vi phạm quy định an toàn giao thông mà gây ra tai nạn giao thông thì sẽ bị áp dụng hình phạt bổ sung là bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe từ 02 tháng đến 04 tháng (căn cứ vào điểm c khoản 10 Điều 6 Nghị định 100/2019/NĐ-CP). Bởi đây là hành vi nghiêm trọng đã gây ra hậu quả trên thực tế. Người điều khiển phương tiện giao thông đang không đảm bảo về khả năng điều khiển phương tiện nên đối tượng này cần bị hạn chế sử dụng, bị tước quyền sử dụng giấy phép lái xe trong một thời gian nhất định để họ nhớ lỗi và không tiếp tục vi phạm lần sau.
3. Biện pháp xử lý trong trường hợp điều khiển xe máy chở theo 02 người lớn gây ra thiệt hại
Ngoài việc bị xử phạt hành chính thì người thực hiện hành vi vi phạm chở quá số người cho phép, cụ thể là điều khiển xe máy chở theo 02 người lớn không thuộc trường hợp được phép có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Nếu hành vi vi phạm đó gây ra thiệt hại cho người khác, đã cấu thành tội phạm thì người thực hiện hành vi phải chấp hành hình phả về Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ được quy định tại Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Tùy thuộc vào tính chất, mức độ thiệt hại gây ra trên thực tế mà hình phạt sẽ được căn cứ để áp dụng.
Theo đó, người điều khiển xe máy chở theo 02 người lớn gây ra thiệt hại cho người khác có thể bị áp dụng các hình phạt như sau:
- Phạt tiền;
- Phạt cải tạo không giam giữ;
- Phạt tù có thời hạn và thời hạn chấp hành hình phạt tù cao nhất có thể lên đến 15 năm;
- Ngoài ra, người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm nếu người phạm tội đang thực hiện các công việc liên quan về chức vụ, nghề nghiệp thực hiện.Mọi vướng mắc chưa rõ hay có yêu cầu hỗ trợ vấn đề pháp lý khác, quý khách vui lòng liên hệ với bộ phận tư vấn pháp luật trực tiếp thông qua tổng đài điện thoại, gọi ngay tới số 1900.6162 để được giải đáp. Trân trọng!