1. Diệt chủng là gì?

Diệt chủng trong tiếng Anh là Genocide.

Có rất nhiều các học giả cũng như tổ chức khác nhau đưa ra các định nghĩa về "diệt chủng".

Tuy nhiên định nghĩa về "diệt chủng" được thừa nhận và sử dụng rộng rãi nhất chính là định nghĩa được nêu trong Công ước của Liên Hiệp Quốc về Trừng phạt và Ngăn ngừa Tội ác Diệt chủng năm 1948 (bắt đầu có hiệu lực kể từ ngày 12/1/1951).

Điều 2 của công ước này định nghĩa:

"Diệt chủng là những hành động nhằm tiêu diệt toàn bộ hoặc một phần một nhóm người vì lí do quốc tịch, sắc tộc, chủng tộc hoặc tôn giáo."

Công ước đã liệt kê năm hành động sau được coi là hành động diệt chủng:

- Sát hại các thành viên của nhóm người đó

- Gây nên những tổn hại nghiêm trọng về thể xác và tinh thần đối với các thành viên của nhóm người đó

- Cố tình buộc nhóm người đó phải chịu những điều kiện sống được tính toán nhằm gây nên sự tiêu vong toàn bộ hoặc một phần nhóm người đó

- Áp đặt các biện pháp nhằm ngăn chặn việc sinh đẻ trong nhóm người đó

- Dùng vũ lực chuyển trẻ em trong nhóm người đó sang một nhóm khác

2. Dấu hiệu nhận biết hành động diệt chủng

Một điều có thể nhận thấy là khái niệm "diệt chủng" nhiều khi bị lạm dụng, bởi không phải mọi cuộc thảm sát qui mô lớn đều được coi là hành động diệt chủng. Cụ thể:

- Điểm khác biệt đầu tiên giữa hành động diệt chủng và việc giết người trên qui mô lớn là phạm vi của hành động diệt chủng rộng lớn hơn. Diệt chủng không chỉ liên quan đến việc giết người mà còn bao gồm các hành động như thanh lọc sắc tộc, ép buộc triệt sản, hãm hiếp tập thể, tra tấn về thể xác và tinh thần, trục xuất, di dời chỗ ở…

- Thứ hai, trong khi giết người trên qui mô lớn thường nhằm tiêu diệt các cá nhân nạn nhân thì hành động diệt chủng chỉ xảy ra khi một Chính phủ hay bất kì một nhóm có tổ chức nào hành động một cách có tính toán nhằm tiêu diệt hoàn toàn một nhóm người hoặc triệt tiêu khả năng tồn tại của nhóm người đó.

3. Một số cuộc diệt chủng đẫm máu trong lịch sử nhân loại

3.1. Thảm họa diệt chủng Holocaust

Thảm họa diệt chủng Holocaust diễn ra vào Thế chiến II được xem là một trong những sự kiện tồi tệ nhất trong lịch sử nhân loại, với 11 triệu người, trong đó có 6 triệu người Do Thái thiệt mạng dưới tay Phát xít Đức.

Có đến một phần tư nạn nhân của thảm họa diệt chủng này bị giết hại dã man chỉ trong vòng 3 tháng, đánh dấu thời kỳ con người bị tàn sát thảm khốc nhất trong thế kỷ 20.

Cuộc diệt chủng này dựa trên luật Nuremberg – luật về bài trừ người Do Thái của Đức quốc xã – quy định những ai được cho là công dân Đức. Theo đó, quyền công dân chỉ được trao cho những người mang dòng máu Đức. Ngoài ra, luật cũng quy định những ai trong vòng ba đời huyết thống có người thân là người Do Thái (dù chỉ một người) sẽ bị tính là người Do Thái.

Trong hai ngày 29 và 30- 9-1941, quân Đức quốc xã đã hành quyết 33.771 người Do Thái tại hẻm núi Babi Yar gần Kiev. Vụ thảm sát tại Babi Ya cũng đánh dấu bước khởi đầu cho lịch sử Holocaust ở Ukraine khi hơn 1,5 triệu người Do Thái đã biến mất khỏi thế giới chỉ để thỏa mãn tham vọng của Adolf Hitler về một châu lục không có người Do Thái.

Tiếp đó, tháng 10-1941, hơn 50.000 người Do Thái bị quân đội Romania giết hại. Người ta còn gọi sự kiện này là "thảm sát Odessa". Vụ việc nằm trong chuỗi tội ác do Phát xít Đức và các nước cùng phe gây ra trong cuộc thảm sát chủng tộc Holocaust thời Thế chiến II.

3.2. Vụ thảm sát Nam Kinh

Thảm sát Nam Kinh, thường được gọi là vụ "Cưỡng hiếp Nam Kinh", là một tội ác chiến tranh do quân đội Nhật Bản tiến hành bên trong và xung quanh thành phố Nam Kinh, Trung Quốc sau khi thành phố này rơi vào tay Quân đội Thiên Hoàng Nhật Bản ngày 13-12-1937.

Trong khi chiếm đóng Nam Kinh, quân đội Nhật Bản đã thực hiện nhiều hành động tàn ác như hãm hiếp, cướp bóc, đốt phá và thậm chí chùng hành quyết cả những người bị coi là tù binh chiến tranh và thường dân. Tuy những vụ hành quyết diễn ra trong bối cảnh nhiều binh lính Trung Quốc giả dạng làm thường dân, song một số lớn dân thường vô tội đã bị quy là binh lính địch và bị giết hại tàn nhẫn. Một số thậm chí còn bị giết hại không lý do. Cả phụ nữ và trẻ em cũng không thoát khỏi những hành động tội ác của chúng. Đặc biệt, những vụ hãm hiếp và giết người ngày càng lan rộng ở cả những vùng ngoại ô Nam Kinh.

Con số thương vong cụ thể là một chủ đề được bàn cãi hết sức gay gắt giữa các nhà nghiên cứu. Các ước tính từ 40.000 lên đến 300.000 người. Con số 300.000 người lần đầu tiên được Harold Timperly, một nhà báo tại Trung Hoa trong thời gian này đưa ra vào tháng 1 năm 1938. Con số này có lẽ bao gồm cả những người bị thảm sát ở những vùng xung quanh thành phố Nam Kinh trong thời gian chiếm đóng của Nhật Bản.

3.3. Diệt chủng Campuchia

Cuộc diệt chủng Campuchia là cuộc diệt chủng mà chế độ Khmer Đỏ (Khmer Rouge) do Pol Pot lãnh đạo, thực hiện tại Campuchia từ giữa năm 1975 đến 1979.

Đặc điểm kỳ dị của cuộc diệt chủng này nằm ở ý thức hệ của những kẻ lãnh đạo. Ý thức hệ đóng vai trò quan trọng trong cuộc diệt chủng này. Mong muốn của Khmer Đỏ khi ấy là đưa đất nước trở lại với "quá khứ huyền thoại", mong muốn ngăn chặn viện trợ từ nước ngoài, điều mà họ coi là một ảnh hưởng xấu, mong muốn khôi phục lại đất nước thành một xã hội nông nghiệp. Và cách thức mà họ sử dụng để đạt được mục tiêu này đã tạo ra nạn diệt chủng Campuchia. Một lãnh đạo Khmer Đỏ nói, phải "thanh lọc quần chúng", và các vụ giết người bắt đầu.

Các ước tính cho thấy có từ 500.000 đến 3 triệu người đã chết trong cuộc diệt chủng này. Cho đến nay, người ta đã phát hiện trên 20.000 ngôi mộ tập thể chôn lấp các nạn nhân của vụ thảm sát trên, những ngôi mộ này có tên gọi là Cánh đồng chết.

3.4. Nạn diệt chủng Rwanda

Nạn diệt chủng Rwanda, còn được biết dưới tên gọi Diệt chủng người Tutsi, là vụ giết người hàng loạt bởi chính quyền Rwanda do đa số người Hutu lãnh đạo, nhắm tới sắc tộc Tutsi ở nước này. Ước chừng 500.000 tới 1.000.000 người Rwanda, tức 70% dân số người Tutsi, bị sát hại trong 100 ngày diễn ra nạn diệt chủng, từ 7-4 đến giữa tháng 7-1994.

Chỉ trong vòng 100 ngày, có tới trên 800.000 người Tutsi và hơn 200.000 người Hutu ôn hòa bị giết, ghi dấu ấn vào một trong những nạn diệt chủng kinh hoàng nhất trong lịch sử nhân loại.

Theo số liệu công bố của Liên Hợp Quốc, chỉ còn khoảng 300.000 đến 400.000 người Tutsi sống sót sau thảm họa diệt chủng nhờ chạy trốn sang các nước láng giềng Burundi, Tanzania và Uganda.

4. Phân biệt tội diệt chủng và tội phạm chiến tranh

Tiêu chí Tội diệt chủng Tội phạm chiến tranh
CSPL Điều 6 Quy chế Rome Điều 8 Quy chế Rome
Khái niệm + Quy chế Rome đã kế thừa những nội dung của định nghĩa “Tội diệt chủng ” của công ước liên hợp quốc về ngăn ngừa tội phạm diệt chủng năm 1948, theo đó tội diệt chủng là thực hiện một hoặc nhiều hành vi nguy hiểm, đối tượng hướng tới là nhằm vào một nhóm dân tộc, sắc tộc, chủng tộc hoặc tôn giáo, có ý định hủy diệt một phần hoặc toàn bộ nhóm người Tội phạm chiến tranh là loại tội phạm đặc biệt nghiêm trọng và có tính nguy hại lớn cho xã hội xâm phạm đến sức khỏe, tính mạng của con người đồng thời xâm phạm đến trật tự xã hội và chính trị của quốc gia
Đặc điểm + Thực hiện một hoặc nhiều hành vi nguy hiểm trong năm hành vi bị cấm được quy định tại Điều 6 Quy chế Rôma.

+ Đối tượng hướng tới nhằm vào một nhóm dân tộc, sắc tộc, chủng tộc hoặc tôn giáo.

Ví dụ: Diệt chủng người da đỏ theo ước tính khoảng 95 triệu tới 114 triệu người da đỏ bản xứ đã bị tiêu diệt trong hơn 300 năm lãnh thổ Bắc Mĩ bị người da trắng xâm chiếm để tạo lập nước Mĩ .

+Cố ý hủy diệt toàn bộ hay một phần cộng đồng người hoặc dân tộc

Theo điều 3 của công ước ngăn ngừa và trừng trị tội diệt chủng, hành vi diệt chủng có thể được thực hiện dưới nhiều vai trò diệt chủng, cố gắng phạm tội diệt chủng, đồng phạm tội diệt chủng.

Tội phạm được chia làm 4 nhóm:

+ Các hành vi vi phạm nghiêm trọng Công ước Geneva 12/8/1949, cụ thể là các hành vi xâm phạm con người hay tài sản được bảo hộ theo quy định của công ước Geneva

+ Các hành vi khác vi phạm nghiêm trọng luật pháp và tập quán được áp dụng trong xung đột vũ trang quốc tế trong khuôn khổ pháp luật quốc tế

+ Đố với các trường hợp xung đột vũ trang không mang tính quốc tế, là sự vi phạm Điều 3 chung cho các Công ước Geneva ngày 12/8/1949 cụ thể là đối với những người không tham gia tích cực vào các trận chiến đấu,kể cả thành viên lực lượng vũ trang đã hạ vũ khí và những người bị loại khỏi vòng chiến đấu do ốm đau, bị thương, bị giam giữ hoặc vì lí do khác.

+Các xung đột vũ trang kéo dài diễn ra trên lãnh thổ của một quốc gia khi có xung đột vũ trang giữa các cơ quan nhà nước và các nhóm vũ trang có tổ chức hoặc giữa các nhóm này với nhau

Lịch sử hình thành Trong hơn nửa thế kỉ trước, kể từ sau chiến tranh thế giới thứ II và đầu thế kỉ XXI, trên toàn thế giới có 250 cuộc xung đột đẫm máu xảy ra. Hậu quả là có 86 triệu thường dân bị thiệt mạng mà đa số là phụ nữ và trẻ em, 170 người bị tước các quyền lợi chính đáng về tài sản, danh dự. Phần lớn những nạn nhân này bị lãng quên và chỉ có một số ít những người bị đưa ra xét xử

Bước phát triển thứ hai về nội dung của luật hình sự quốc tế thể hiện ở việc hình thành các quy định quốc tế về tội phạm và hình phạt. Đây có thể gọi là quá trình “hình sự hóa” trách nhiệm của cá nhân bởi luật quốc tế ,hay cũng có thể gọi là quá trình “quốc tế hóa” trách nhiệm hình sự của các nhân,là một bước phát triển cơ bản không chỉ của luật hình sự quốc tế nói riêng,mà còn của cả luật quốc tế nói chung.Đây cũng có thể nói là giai đoạn hình thành tội Diệt chủng và các tộc ác quốc tế khác

Bước phát triển thử ba của luật hình sự quốc tế là việc các quốc gia bằng cách này hay cách khác đã thiết lập nên những thiết chế tư pháp quốc tế, hoặc có tính chất quốc tế nhằm truy tố, xét xử những tội phạm quốc tế nghiêm trọng nhất. Các loại tội danh như tội xâm lược, tội phạm chiến tranh được quy định sau hai cuộc đại chiến, đặc biệt là Đại chiến thế giới lần thứ II với những tội ác khủng khiếp của Đức quốc xã đã dẫn đến sự ra đời của những thiết chế chưa từng hiện diện trong lịch sử nhân loại là hai tòa án quân sự quốc tế với cơ sở pháp lý xét xử đầy đủ và hiệu quả (Quy chế tòa án Nurumbe). Các tội phạm nói trên cùng với sự xuất hiện các loại hình tội ác quốc tế khác như tội diệt chủng đã được định danh chung là tội ác quốc tế

Tội phạm chiến tranh bắt đầu được quy định trong Điều ước do chính phủ các nước Liên xô, Hoa Kì, Anh , Pháp thỏa thuận tại Luân Đôn ngày 8 tháng 8 năm 1945

Nhưng những thông lệ này được luật hóa lần đầu tiên trong pháp luật quốc tế trong các công ước Lahay 1899 và 1907.Khái niệm hiện đại của tội phạm chiến tranh được tiếp tục phát triển dưới sự bảo trợ của tòa án Nuremberg dựa trên định nghĩa của hiến chương Luân đôn ng