1. Huân chương Chiến công hạng ba là gì?

Huân chương Chiến công hạng ba là một hình thức khen thưởng cấp Nhà nước, thuộc hệ thống Huân chương do Chủ tịch nước quyết định tặng hoặc truy tặng. Theo Luật Thi đua, khen thưởng năm 2022, đây là hạng thấp nhất trong ba hạng của Huân chương Chiến công, gồm hạng Nhất, hạng Nhì và hạng Ba.

Về bản chất pháp lý, Huân chương Chiến công dùng để ghi nhận chiến công, thành tích xuất sắc trong chiến đấu, phục vụ chiến đấu, bảo vệ chủ quyền, an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự, an toàn xã hội hoặc đấu tranh phòng, chống tội phạm. Khác với các hình thức khen thưởng theo quá trình công tác lâu dài, Huân chương Chiến công thiên về việc ghi nhận thành tích nổi bật, đột xuất, có giá trị nêu gương và tác dụng giáo dục sâu rộng.

Điểm cần lưu ý là Huân chương Chiến công hạng ba không chỉ áp dụng cho quân nhân, công an mà còn có thể áp dụng cho cá nhân, tập thể ở các lĩnh vực khác nếu thành tích đạt đúng tiêu chuẩn luật định. Điều này phù hợp với phạm vi điều chỉnh chung của Luật Thi đua, khen thưởng, vốn áp dụng cho cá nhân, tập thể, hộ gia đình người Việt Nam và một số chủ thể khác theo luật.

Nếu so sánh giữa ba hạng, Huân chương Chiến công hạng ba ghi nhận chiến công có phạm vi ảnh hưởng ở cấp quân khu, quân đoàn, quân chủng, binh chủng, tổng cục và tương đương thuộc Bộ Quốc phòng, trong hệ lực lượng thuộc Công an nhân dân hoặc trong một lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý của bộ, ban, ngành, tỉnh. Đây là dấu hiệu quan trọng để phân biệt với hạng Nhì và hạng Nhất, vốn đòi hỏi phạm vi ảnh hưởng rộng hơn.

 

2. Tiêu chuẩn và điều kiện xét tặng Huân chương Chiến công hạng ba

Căn cứ trực tiếp hiện hành là Điều 50 Luật Thi đua, khen thưởng năm 2022. Theo đó, cả cá nhân và tập thể đều có thể được xét tặng hoặc truy tặng Huân chương Chiến công hạng ba.

Đối với cá nhân, điều kiện nền tảng trước hết là phải trung thành với Tổ quốc, với Nhân dân. Sau đó, cá nhân phải đạt một trong hai nhóm tiêu chuẩn sau:

Thứ nhất, lập được chiến công xuất sắc trong chiến đấu hoặc phục vụ chiến đấu, có tác dụng động viên, giáo dục, nêu gương trong toàn quân khu, quân đoàn, quân chủng, binh chủng, tổng cục và tương đương thuộc Bộ Quốc phòng, trong hệ lực lượng thuộc Công an nhân dân hoặc trong một lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý của bộ, ban, ngành, tỉnh, và thành tích đó được bộ, ban, ngành, tỉnh công nhận.

Thứ hai, cá nhân có sự chủ động, mưu trí, dũng cảm, đạt hiệu quả cao trong chiến đấu và phục vụ chiến đấu để bảo vệ chủ quyền, an ninh quốc gia hoặc đấu tranh với tội phạm; góp phần giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội; chấp hành tốt chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao; đồng thời thành tích đạt được có phạm vi ảnh hưởng và nêu gương trong phạm vi cấp quân khu, quân đoàn, quân chủng, binh chủng, tổng cục và tương đương, hoặc trong hệ lực lượng Công an nhân dân, hoặc trong lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý của bộ, ban, ngành, tỉnh.

Đối với tập thể, luật cũng yêu cầu điều kiện trung thành với Tổ quốc, với Nhân dân. Tập thể được xét tặng khi đạt một trong hai nhóm tiêu chuẩn:

Thứ nhất, lập được thành tích xuất sắc trong chiến đấu, phục vụ chiến đấu; có tác dụng động viên, giáo dục, nêu gương trong phạm vi cấp quân khu, quân đoàn, quân chủng, binh chủng, tổng cục và tương đương thuộc Bộ Quốc phòng, trong hệ lực lượng thuộc Công an nhân dân hoặc trong một lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý của bộ, ban, ngành, tỉnh, và được công nhận.

Thứ hai, tập thể chủ động, mưu trí, dũng cảm, đạt hiệu quả trong chiến đấu, phục vụ chiến đấu bảo vệ chủ quyền, an ninh quốc gia hoặc đấu tranh với tội phạm; giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội; nội bộ đoàn kết; tổ chức đảng, đoàn thể trong sạch, vững mạnh; hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao; thành tích đạt được có phạm vi ảnh hưởng và nêu gương ở cấp tương ứng nêu trên.

Từ quy định này có thể rút ra ba điểm cốt lõi khi xét tiêu chuẩn:

Một là, không phải cứ có thành tích trong lực lượng vũ trang là đủ, mà thành tích phải đạt mức chiến công xuất sắc hoặc hiệu quả nổi bật, kèm yếu tố mưu trí, dũng cảm hoặc đóng góp thực tế rõ rệt.

Hai là, luật đặc biệt coi trọng phạm vi ảnh hưởng của thành tích. Hạng ba đòi hỏi sức lan tỏa trong phạm vi cấp quân khu, quân đoàn, quân chủng, binh chủng, tổng cục, hệ lực lượng hoặc lĩnh vực quản lý của bộ, ngành, tỉnh; chưa phải mức toàn quân, toàn lực lượng, toàn tỉnh hoặc toàn quốc như các hạng cao hơn.

Ba là, với tập thể, ngoài thành tích chuyên môn còn có yêu cầu về nội bộ đoàn kết, tổ chức đảng và đoàn thể trong sạch, vững mạnh. Đây là điều kiện bổ sung rất quan trọng mà nhiều người dễ bỏ qua.

 

3. Quy trình, thủ tục đề nghị xét tặng Huân chương Chiến công hạng ba

Về thẩm quyền quyết định, Huân chương là hình thức khen thưởng do Chủ tịch nước quyết định tặng. Tuy nhiên, Chủ tịch nước không trực tiếp nhận hồ sơ từ cơ sở. Hồ sơ được thực hiện theo chuỗi đề nghị và trình từ cấp quản lý lên cấp trung ương.

Theo Luật Thi đua, khen thưởng năm 2022, việc xét khen thưởng phải được phát hiện, đề nghị từ đơn vị cơ sở. Sau khi cá nhân hoặc tập thể lập chiến công, người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị trực tiếp quản lý có trách nhiệm xem xét thành tích, lập hồ sơ và đề nghị cấp có thẩm quyền.

Về trình tự chung, quy trình thường diễn ra theo các bước sau:

Bước 1 là phát hiện thành tích và lập hồ sơ ban đầu tại đơn vị cơ sở. Đây là khâu ghi nhận đầy đủ diễn biến sự việc, tính chất chiến công, kết quả đạt được và phạm vi ảnh hưởng của thành tích.

Bước 2 là tổ chức họp xét khen thưởng. Hồ sơ phải có biên bản xét khen thưởng theo Điều 84 Luật Thi đua, khen thưởng. Tùy hệ thống tổ chức, việc họp xét có thể được thực hiện qua hội đồng thi đua, khen thưởng hoặc bộ phận có chức năng tham mưu.

Bước 3 là hoàn thiện báo cáo thành tích và các tài liệu xác nhận. Luật yêu cầu hồ sơ đề nghị xét tặng hình thức khen thưởng phải có tờ trình, báo cáo thành tích, biên bản xét khen thưởng và tài liệu chứng nhận hoặc xác nhận của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền đối với thành tích đặc biệt xuất sắc đột xuất hoặc các căn cứ khác liên quan.

Bước 4 là công khai danh sách trước khi đề nghị khen thưởng. Theo khoản 5 Điều 84 Luật Thi đua, khen thưởng, người có thẩm quyền đề nghị xét tặng huân chương có trách nhiệm công khai danh sách cá nhân, tập thể trước khi đề nghị khen thưởng. Đây là yêu cầu về minh bạch, nhưng cách thức và phạm vi công khai sẽ phụ thuộc hướng dẫn cụ thể và tính chất của từng hồ sơ, nhất là hồ sơ có yếu tố bí mật nhà nước.

Bước 5 là trình hồ sơ lên cấp có thẩm quyền đề nghị Thủ tướng Chính phủ trình Chủ tịch nước. Theo Điều 83 Luật Thi đua, khen thưởng, các chủ thể như Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, người đứng đầu cơ quan trung ương, Giám đốc đại học quốc gia, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh là những người có thẩm quyền đề nghị Thủ tướng Chính phủ trình Chủ tịch nước xét tặng huân chương cho đối tượng thuộc phạm vi quản lý.

Bước 6 là tiếp nhận, thẩm định hồ sơ ở trung ương. Theo Thông tư số 15/2025/TT-BNV, hồ sơ đề nghị khen thưởng của bộ, ban, ngành, tỉnh trình Thủ tướng Chính phủ được gửi về Bộ Nội vụ qua Ban Thi đua - Khen thưởng Trung ương để thực hiện theo quy định.

Bước 7 là Thủ tướng Chính phủ xem xét, trình Chủ tịch nước. Sau đó, Chủ tịch nước ban hành quyết định tặng hoặc truy tặng Huân chương Chiến công hạng ba.

Về thành phần hồ sơ, căn cứ tối thiểu theo Điều 84 Luật Thi đua, khen thưởng gồm:

  • Tờ trình đề nghị xét tặng hình thức khen thưởng
  • Báo cáo thành tích của cá nhân hoặc tập thể
  • Biên bản xét khen thưởng
  • Tài liệu chứng nhận hoặc xác nhận của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền về thành tích

Trường hợp hồ sơ có yếu tố bí mật nhà nước hoặc cần khen thưởng rất gấp để phục vụ nhiệm vụ chính trị, hồ sơ có thể được xem xét theo thủ tục đơn giản theo Điều 85 Luật Thi đua, khen thưởng. Đây là điểm rất quan trọng đối với các chiến công đột xuất trong chiến đấu, phục vụ chiến đấu hoặc hành động dũng cảm cứu người, cứu tài sản.

 

4. Mức tiền thưởng kèm theo Huân chương Chiến công hạng ba theo quy định

Mức tiền thưởng kèm theo Huân chương Chiến công hạng ba hiện vẫn được xác định theo hệ số của Nghị định số 98/2023/NĐ-CP. Theo hướng dẫn chính thức về mức thưởng, cá nhân được tặng hoặc truy tặng Huân chương Chiến công hạng ba được hưởng mức tiền thưởng bằng 4,5 lần mức lương cơ sở. Tập thể được hưởng mức thưởng gấp 2 lần cá nhân, tức bằng 9 lần mức lương cơ sở.

Từ ngày 01/7/2026, theo Nghị định số 161/2026/NĐ-CP, mức lương cơ sở là 2.530.000 đồng/tháng. Do đó, nếu quyết định khen thưởng được ban hành trong thời gian mức lương cơ sở này đang có hiệu lực, tiền thưởng được tính như sau:

Đối với cá nhân:
4,5 x 2.530.000 đồng = 11.385.000 đồng.

Theo nguyên tắc tính thưởng của Nghị định số 98/2023/NĐ-CP, tiền thưởng sau khi nhân với hệ số mức lương cơ sở được làm tròn số lên hàng chục nghìn đồng. Vì vậy, mức thực nhận theo cách tính này là 11.390.000 đồng.

Đối với tập thể:
9 x 2.530.000 đồng = 22.770.000 đồng.

Khoản tiền này là tiền thưởng kèm theo hiện vật khen thưởng và bằng chứng nhận. Nguồn chi do cơ quan đã đề nghị khen thưởng chi trả từ quỹ thi đua, khen thưởng do cấp mình quản lý theo khoản 4 Điều 11 Luật Thi đua, khen thưởng.

Cũng cần lưu ý một điểm về thời điểm áp dụng. Nếu quyết định tặng thưởng được ký trước ngày 01/7/2026 thì phải tính theo mức lương cơ sở cũ là 2.340.000 đồng/tháng. Còn tại thời điểm hiện nay, ngày 25/8/2026, nếu có quyết định khen thưởng mới thì phải căn cứ mức lương cơ sở 2.530.000 đồng/tháng.

 

5. Các câu hỏi thường gặp về khen thưởng Huân chương Chiến công

Người không thuộc Quân đội nhân dân hoặc Công an nhân dân có được xét tặng Huân chương Chiến công hạng ba không?

Có thể. Luật Thi đua, khen thưởng áp dụng cho cá nhân, tập thể người Việt Nam nói chung. Điều 50 cũng không giới hạn tuyệt đối đối tượng chỉ trong lực lượng vũ trang, mà còn mở ra trường hợp thành tích ở lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý của bộ, ban, ngành, tỉnh. Vì vậy, người ngoài lực lượng vũ trang vẫn có thể được xét nếu lập chiến công đúng tính chất luật định và đạt đủ phạm vi ảnh hưởng cần thiết.

Huân chương Chiến công hạng ba có được tặng nhiều lần cho cùng một người không?

Có thể. Khoản 2 Điều 5 Luật Thi đua, khen thưởng quy định một hình thức khen thưởng có thể tặng nhiều lần cho một đối tượng, nhưng không được khen thưởng nhiều lần, nhiều hình thức cho cùng một thành tích. Nghĩa là nếu có những chiến công khác nhau, độc lập với nhau, vẫn có thể tiếp tục được xét tặng.

Có danh hiệu nào tên là Huy chương Chiến công hạng ba không?

Không thấy có trong hệ thống khen thưởng hiện hành. Đối chiếu Luật Thi đua, khen thưởng năm 2022 và các quy định về hình thức khen thưởng cấp Nhà nước, tên gọi đúng là Huân chương Chiến công hạng ba. Cách gọi “Huy chương Chiến công” là cách gọi nhầm, không phải tên hình thức khen thưởng theo luật.

Sau khi từng bị kỷ luật, cá nhân hoặc tập thể có còn được xét tặng không?

Không phải bị loại vĩnh viễn trong mọi trường hợp. Về nguyên tắc, việc xét khen thưởng phải căn cứ vào thành tích cụ thể, thời điểm lập thành tích và việc chấp hành kỷ luật. Nếu sau khi chấp hành xong kỷ luật mà cá nhân hoặc tập thể tiếp tục lập chiến công đáp ứng đầy đủ tiêu chuẩn của Điều 50 thì vẫn có thể được xem xét theo quy định hiện hành.

Huân chương Chiến công hạng ba có phải cứ lập công là được tặng ngay không?

Không. Thành tích phải đạt ngưỡng chiến công xuất sắc, có phạm vi ảnh hưởng đúng cấp độ của hạng ba, được cơ quan có thẩm quyền công nhận và đi qua quy trình xét, thẩm định, đề nghị, trình Chủ tịch nước. Đây là hình thức khen thưởng cấp Nhà nước nên tiêu chuẩn và thủ tục đều chặt chẽ hơn rất nhiều so với giấy khen, bằng khen hoặc danh hiệu thi đua thông thường.

Quý bạn đọc có thể tham kahor thêm: