- 1. Khái niệm và quy định chung về đánh giá, xếp loại học sinh THCS
- 2. Tiêu chuẩn đạt danh hiệu Học sinh Xuất sắc cấp 2
- 3. Cách tính điểm và tiêu chí đánh giá kết quả học tập, rèn luyện
- 4. Giải đáp các thắc mắc thường gặp về xét danh hiệu học sinh cấp 2
- 5. Quy định về khen thưởng và giấy khen dành cho học sinh THCS
1. Khái niệm và quy định chung về đánh giá, xếp loại học sinh THCS
Theo quy định hiện hành, học sinh THCS được đánh giá trên hai phương diện: kết quả rèn luyện và kết quả học tập. Cách đánh giá mới không còn sử dụng các mức “học lực Giỏi, Khá, Trung bình, Yếu, Kém” và “hạnh kiểm Tốt, Khá, Trung bình, Yếu” như trước đây.
Kết quả rèn luyện được đánh giá theo bốn mức:
- Tốt;
- Khá;
- Đạt;
- Chưa đạt.
Kết quả học tập cũng được đánh giá theo bốn mức:
- Tốt;
- Khá;
- Đạt;
- Chưa đạt.
Việc đánh giá phải bảo đảm tính chính xác, công bằng, khách quan, trung thực và vì sự tiến bộ của học sinh. Giáo viên không chỉ căn cứ vào điểm kiểm tra mà còn xem xét quá trình học tập, phẩm chất, năng lực, ý thức chấp hành nội quy và sự tiến bộ của từng em.
Các môn học được đánh giá theo hai hình thức:
- Đánh giá bằng nhận xét: thường gồm Giáo dục thể chất, Nghệ thuật, Hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp và Nội dung giáo dục của địa phương. Kết quả được ghi theo mức Đạt hoặc Chưa đạt.
- Đánh giá bằng nhận xét kết hợp điểm số: gồm những môn học còn lại như Toán, Ngữ văn, Ngoại ngữ, Khoa học tự nhiên, Lịch sử và Địa lí, Giáo dục công dân, Công nghệ, Tin học. Điểm được tính theo thang điểm 10.
Thông tư 22/2021/TT-BGDĐT được áp dụng theo lộ trình từ lớp 6 vào năm học 2021–2022 và áp dụng cho toàn bộ học sinh THCS từ năm học 2024–2025.
Điểm mới đáng chú ý là việc xếp loại không dựa vào điểm trung bình chung của tất cả các môn học. Thay vào đó, kết quả được xác định dựa trên mức đạt của từng môn, kết quả rèn luyện và các tiêu chí cụ thể.
2. Tiêu chuẩn đạt danh hiệu Học sinh Xuất sắc cấp 2
Theo khoản 1 Điều 15 Thông tư 22/2021/TT-BGDĐT, để được xét danh hiệu “Học sinh Xuất sắc” vào cuối năm học, học sinh phải đồng thời đáp ứng ba điều kiện:
Thứ nhất, kết quả rèn luyện cả năm được đánh giá mức Tốt.
Thứ hai, kết quả học tập cả năm được đánh giá mức Tốt. Điều này có nghĩa:
- Tất cả các môn đánh giá bằng nhận xét phải đạt mức Đạt.
- Tất cả các môn đánh giá bằng nhận xét kết hợp điểm số phải có điểm trung bình môn cả năm từ 6,5 trở lên.
- Trong số các môn đánh giá bằng điểm số, có ít nhất 6 môn đạt điểm trung bình môn cả năm từ 8,0 trở lên.
Thứ ba, học sinh có ít nhất 6 môn học đánh giá bằng nhận xét kết hợp điểm số đạt điểm trung bình môn cả năm từ 9,0 trở lên.
Như vậy, chỉ có điểm trung bình cao là chưa đủ. Học sinh phải vừa có kết quả học tập tốt, vừa rèn luyện tốt và có thành tích nổi bật ở ít nhất 6 môn học.
Danh hiệu “Học sinh Giỏi” có điều kiện thấp hơn danh hiệu “Học sinh Xuất sắc”. Học sinh được xét danh hiệu “Học sinh Giỏi” khi:
- Kết quả rèn luyện cả năm đạt mức Tốt;
- Kết quả học tập cả năm đạt mức Tốt;
- Không bắt buộc phải có 6 môn đạt từ 9,0 trở lên.
Thông tư 22 không còn quy định danh hiệu “Học sinh Tiên tiến” như một danh hiệu khen thưởng cuối năm đối với học sinh THCS và THPT. Vì vậy, nếu học sinh đạt kết quả tốt nhưng chưa đủ điều kiện “Học sinh Giỏi” hoặc “Học sinh Xuất sắc”, nhà trường có thể xem xét các hình thức động viên khác theo quy định và thực tế giáo dục của đơn vị.
3. Cách tính điểm và tiêu chí đánh giá kết quả học tập, rèn luyện
Đối với các môn học đánh giá bằng nhận xét kết hợp điểm số, điểm trung bình môn học kỳ được tính theo công thức:
ĐTB môn học kỳ = (Tổng điểm đánh giá thường xuyên + 2 × điểm giữa kỳ + 3 × điểm cuối kỳ) / (Số điểm đánh giá thường xuyên + 5).
Trong đó:
- Điểm đánh giá thường xuyên có hệ số 1;
- Điểm giữa kỳ có hệ số 2;
- Điểm cuối kỳ có hệ số 3.
Điểm trung bình môn cả năm được tính như sau:
ĐTB môn cả năm = (ĐTB môn học kỳ I + 2 × ĐTB môn học kỳ II) / 3.
Cách tính này cho thấy kết quả học kỳ II có trọng số cao hơn học kỳ I, tạo điều kiện để học sinh tiến bộ và cải thiện kết quả trong nửa sau của năm học. Toàn văn Thông tư 22/2021/TT-BGDĐT
Ví dụ, một môn có ba điểm thường xuyên là 7, 8, 8; điểm giữa kỳ là 8 và điểm cuối kỳ là 9:
ĐTB học kỳ = (7 + 8 + 8 + 2 × 8 + 3 × 9) / (3 + 5) = 66/8 = 8,25.
Khi làm tròn đến một chữ số thập phân, kết quả là 8,3.
Nếu điểm trung bình học kỳ I là 7,8 và học kỳ II là 8,4 thì:
ĐTB cả năm = (7,8 + 2 × 8,4) / 3 = 8,2.
Tiêu chí xác định kết quả học tập:
Mức Tốt:
- Tất cả các môn đánh giá bằng nhận xét đạt mức Đạt.
- Tất cả các môn đánh giá bằng điểm số có điểm trung bình từ 6,5 trở lên.
- Có ít nhất 6 môn đạt điểm trung bình từ 8,0 trở lên.
Mức Khá:
- Tất cả các môn đánh giá bằng nhận xét đạt mức Đạt.
- Tất cả các môn đánh giá bằng điểm số có điểm trung bình từ 5,0 trở lên.
- Có ít nhất 6 môn đạt điểm trung bình từ 6,5 trở lên.
Mức Đạt:
- Có nhiều nhất một môn đánh giá bằng nhận xét ở mức Chưa đạt.
- Có ít nhất 6 môn đánh giá bằng điểm số đạt điểm trung bình từ 5,0 trở lên.
- Không có môn nào có điểm trung bình dưới 3,5.
Mức Chưa đạt áp dụng đối với những trường hợp không đáp ứng tiêu chuẩn của mức Đạt.
Về kết quả rèn luyện, mức Tốt cả năm được xác định khi học kỳ II đạt mức Tốt và học kỳ I đạt từ mức Khá trở lên. Việc đánh giá căn cứ vào phẩm chất, ý thức chấp hành nội quy, thái độ học tập, cách ứng xử, tinh thần trách nhiệm và sự tiến bộ của học sinh.
Thông tư cũng có cơ chế điều chỉnh trong trường hợp kết quả học tập bị giảm từ hai mức trở lên chỉ do kết quả của duy nhất một môn học. Khi đó, kết quả có thể được điều chỉnh lên một mức liền kề nếu đáp ứng đầy đủ điều kiện theo quy định.
4. Giải đáp các thắc mắc thường gặp về xét danh hiệu học sinh cấp 2
Học sinh có điểm trung bình chung cao có chắc chắn đạt danh hiệu Học sinh Xuất sắc không?
Không. Thông tư 22 không sử dụng điểm trung bình chung của tất cả các môn làm căn cứ duy nhất. Học sinh phải đạt kết quả học tập Tốt, rèn luyện Tốt và có ít nhất 6 môn đạt điểm trung bình cả năm từ 9,0 trở lên.
Nếu có một môn dưới 6,5 thì có được Học sinh Xuất sắc không?
Thông thường không, vì kết quả học tập mức Tốt yêu cầu tất cả các môn đánh giá bằng điểm số phải đạt từ 6,5 trở lên. Tuy nhiên, nếu kết quả bị hạ từ hai mức trở lên chỉ do duy nhất một môn, nhà trường có thể xem xét cơ chế điều chỉnh theo khoản 3 Điều 9.
Học kỳ II có quan trọng hơn học kỳ I không?
Có. Khi tính điểm trung bình môn cả năm, điểm học kỳ II được nhân hệ số 2. Tuy nhiên, học sinh vẫn phải duy trì kết quả rèn luyện và học tập ổn định trong cả năm.
Môn Giáo dục thể chất có tính điểm để xét Học sinh Xuất sắc không?
Môn Giáo dục thể chất thường được đánh giá bằng nhận xét ở mức Đạt hoặc Chưa đạt. Vì vậy, môn này không tính điểm trung bình theo thang 10 nhưng vẫn ảnh hưởng đến kết quả học tập chung nếu bị đánh giá Chưa đạt.
Học sinh được miễn thực hành Giáo dục thể chất có bị mất danh hiệu không?
Nếu được nhà trường cho phép miễn theo đúng quy định do bệnh tật, khuyết tật hoặc lý do sức khỏe có hồ sơ chứng minh, học sinh không bị mặc nhiên đánh giá Chưa đạt. Nhà trường có thể tổ chức hình thức đánh giá phù hợp để bảo đảm quyền lợi của học sinh.
Nghỉ học nhiều có ảnh hưởng đến việc xét danh hiệu không?
Có thể ảnh hưởng. Theo quy định về điều kiện lên lớp, học sinh nghỉ quá số buổi cho phép trong năm học có thể không được lên lớp. Khi không đủ điều kiện hoàn thành năm học, học sinh sẽ gặp khó khăn trong việc được xét danh hiệu khen thưởng cuối năm. Vì vậy, cần phân biệt nghỉ có phép và nghỉ không phép nhưng vẫn phải bảo đảm tổng số buổi nghỉ trong giới hạn quy định.
Danh hiệu Học sinh Tiên tiến còn được xét không?
Theo hệ thống danh hiệu tại Điều 15 Thông tư 22/2021/TT-BGDĐT, danh hiệu cuối năm chủ yếu gồm “Học sinh Giỏi” và “Học sinh Xuất sắc”. Danh hiệu “Học sinh Tiên tiến” không còn là danh hiệu khen thưởng cuối năm theo cách xếp loại cũ.
5. Quy định về khen thưởng và giấy khen dành cho học sinh THCS
Cuối năm học, Hiệu trưởng có thẩm quyền tặng giấy khen cho học sinh đạt danh hiệu “Học sinh Giỏi” và “Học sinh Xuất sắc” theo tiêu chuẩn của Thông tư 22/2021/TT-BGDĐT.
Ngoài khen thưởng cuối năm, học sinh còn có thể được khen thưởng khi:
- Có thành tích nổi bật trong học tập;
- Đạt giải trong các kỳ thi, cuộc thi hoặc hoạt động giáo dục;
- Có thành tích trong nghiên cứu khoa học, sáng tạo kỹ thuật, văn nghệ, thể thao;
- Có hành động dũng cảm, việc làm tốt hoặc đóng góp tích cực cho tập thể;
- Có thành tích đột xuất trong rèn luyện và học tập.
Việc xét khen thưởng cần căn cứ vào kết quả học tập, rèn luyện và thành tích thực tế của học sinh. Nhà trường cần bảo đảm sự công khai, chính xác, công bằng, tránh khen thưởng tràn lan hoặc chỉ dựa vào điểm số.
Quy trình thực tế thường gồm các bước:
- Giáo viên bộ môn hoàn thành việc đánh giá, tính điểm và nhập kết quả.
- Giáo viên chủ nhiệm tổng hợp kết quả học tập, rèn luyện của học sinh.
- Nhà trường kiểm tra, đối chiếu điều kiện danh hiệu.
- Hiệu trưởng xem xét và ban hành quyết định khen thưởng.
- Giấy khen được trao cho học sinh vào dịp tổng kết năm học hoặc thời điểm phù hợp.
Đối với học sinh có thành tích đặc biệt nổi bật, nhà trường có thể lập hồ sơ đề nghị cơ quan có thẩm quyền xem xét khen thưởng ở cấp cao hơn theo pháp luật về thi đua, khen thưởng.
Phụ huynh và học sinh cần lưu ý rằng danh hiệu khen thưởng không chỉ phản ánh điểm số mà còn thể hiện kết quả rèn luyện, ý thức, phẩm chất và tinh thần trách nhiệm. Vì vậy, mục tiêu phù hợp nhất là duy trì việc học tập nghiêm túc, rèn luyện tốt và tiến bộ bền vững trong suốt năm học.
Quý bạn đọc cũng có thể tham khảo thêm: