NỘI DUNG TƯ VẤN​

Mặc dù tài sản hữu hình như đất đai, lao động và tiền vốn đã từng là tiêu chuẩn so sánh tình trạng kinh tế, điều đó nay không còn đúng nữa. Động lực mới tạo ra sự thịnh vượng trong xã hội đương thời là tài sản dựa trên tri thức. Vậy giá trị của các tài sản dựa trên tri thức hay chính là quyền sở hữu trí tuệ được định giá như thế nào, bằng cách phương pháp ra sao... bạn có thể tham khảo nội dung sau đây để biết rõ hơn về điều đó.

1. Định giá tài sản thuộc sở hữu trí tuệ

Tài sản trí tuệ đã nổi lên như một nhân tố quan trọng trong chiến lược của doanh nghiệp vào những năm 1990. Một lý do khiến nền kinh tế mới gọi là nển kinh tế vô hình là các phương pháp kế toán cũ gặp khó khăn trong việc theo dõi loại tài sản này. Đáp ứng tình hình đó, pháp luật điều chỉnh vấn để này đã được dự thảo ở nhiều nưóc. ơ Hoa Kỳ, Luật Điều hoà ngân sách năm 1995 đã đưa ra định nghĩa về một số nhóm tài sản vô hình (ví dụ uy tín, giá trị do hoạt động thành đạt, danh sách khách hàng, bằng độc quyển sáng chế, công thức, quy trình, kiểu dáng, mẫu mã, bí quyết và li-xăng) và cho phép các doanh nghiệp khấu hao chi chí cho các tài sản đó.

Việc thiếu các tiêu chuẩn kế toán đáng tin cậy và được chấp nhận rộng rãi đối vói các tài sản vô hình đã dẫn đến những khác biệt giữa việc định giá theo sổ sách của các công ty và tài sản trên thị trường của họ. Ví dụ, một cuộc rà soát sổ sách kế toán của 350 công ty lớn nhất nước Anh, vói tổng số vốn kết hợp chuyển đổi trên thị trường là 2.167 tỷ USD, đã cho thấy tổng tài sản trên bảng cân đối đạt 603 tỷ USD và tài sản vô hình chỉ đạt 38,9 tỷ USD trong đó. Kết quà trên cho thấy một khoảng trống không thể giải thích giữa chuyển đổi trên thị trương và tài sản trên sổ sách kế toán vói giá trị khoáng 1.500 tỷ USD hoặc 72%. Vì lý do tương tự, song song với sự phát triển của luật pháp quốc gia, cũng đã có những nỗ lực phối hợp của khu vực. Ví dụ, từ khi được thành lập vào năm 1977 , Hiệp hội Kế toán châu Âu đã cố gắng liên kết giới nghiên cứu và học giã kế toán trên toàn châu Ầu. Sáng kiến này đang xử lý vấn đề thể hiện và định giá gắn với tài sản vô hình.

Trên bình diện quốc tế, Uỷ ban tiêu chuẩn kê' toán quốc tế (IASC), một tổ chức tư nhân độc lập, cũng làm việcnhững tiêu chuẩn kế toán có thể được quốc tế chấp nhận. IASC công bố các tiêu chuẩn của mình trong một loạt các tuyên bố chính thức mang tên Tiêu chuẩn Kế toán Quốc tế (IAS). Năm 1998, IASC đã công bố IAS 38, một tiêu chuẩn đối vơi tài sản vô hình đã được xem xét lại.Tiêu chuẩn này áp dụng cho những chi phí quảng cáo, đào tạo, khởi động và hoạt động R&D. Một trong những hình trong tuyên bố tài chính nếu đó là một tài sản có thể nhận dạng đặc điểm chính của IAS là yêu cầu chỉ nên thừa nhận một tài sản vô được, được kiểm soát và có thể phân biệt rõ ràng với uy tín của một doanh nghiệp. Tài sản vô hình nên được khấu hao trong khoảng thời gian ước lượng sát nhất vói thòi gian tồn tại của một doanh nghiệp. Việc công khai tài sản vô hình được thừa nhộn trong báo cáo tài chính và vận động của mệnh giá tài sản đó (giá trị theo sổ sách) trong năm.

Trói vói sự nhạy bén của một sô' kế toán viên và cơ quan chính phủ, nhiều doanh nghiệp đã rất chậm trễ trong việc áp dụng cách quản lý SHTT ở tầm chiến lược. Đó có lẽ là do thực tế ở nhiều nưóc sự thừa nhận SHTT như là một phẩn trách nhiệm tự nhiên của quàn lý vẫn còn chưa bao gồm việc thực hành đánh giá loại giá trị này. Tuy nhiên, để đáp ứng các yêu cẩu về công khai tài sản, cần phải có các phương pháp đánh giá có hiệu quả về giá trị của tài sân vô hình, trong đó có SHTT Các chuyên gia hiện chưa tìm ra được một giãi pháp hữu hiệu có khả năng thỏa mãi đầy đủ cho các doanh nghiệp khác nhau và đây cũng có thể là một lý do khác cản trở nhiều doanh nghiệp định giá SHTT một cách có hệ thống.

2. Phương pháp định giá:

Các phương pháp đã được phát triển cho đến nay để định giá SHTT hoặc là phương pháp mang tính số lượng hoặc là phương pháp mang tính chất lượng. Các phương pháp chất lượng đưa ra điểm số xếp hạng khác nhau dựa trên một số tiêu chuẩn đánh giá. Các phương pháp số lượng đưa ra con số thực tế về giá trị. Các phương pháp định giá có thể được chia thành ba nhóm sau đây:

2.1 Tiếp cận theo chi phí

Các chi phí để đạt được SHTT từ nguồn bên ngoài hoặc chi phí để tự tạo ra tài sản thuộc SHTT được biểu thị. Phương pháp này đo lường lợi nhuận tương lai thông qua việc định lượng số tiền lẽ ra phải chi để thay thế khả năng cung ứng dịch vụ trong tương lai của tài sân. Giá trị này tuỳ thuộc vào việc khấu hao và sự giâm giá.

2.2 Tiếp cận theo thu nhập

Cách tiếp cận theo thu nhập tập trung vào việc xem xét khả năng sinh lợi của tài sản. Lý thuyết cơ bản là giá trị của tài sản có thể đo được bằng giá trị hiện thời của lợi nhuận kinh tế ròng vói giã định ràng SHTT có thể tạo ra thu nhập. Cách tiếp cận này được thừa nhận rộng rãi là đáng tin cậy nhất cho việc định giá SHTT

2.3 Tiếp cận theo thị trương

Tiếp cận theo thị trường là kỹ thuật định giá trực tiếp nhất và dễ hiểu nhất. Phương pháp này đo giá trị hiện tại của lợi nhuận tương lai bàng cách đạt được một sự đồng thuận về giá trị mà những người khác trên thị trường đã nhận định. Có hai yêu cầu đặt ra: tồn tại một thị trường tích cực và công khai và có sự trao đổi tài sản tương đương.

Cho tới gần đây, các điều kiện này vẫn được xem là khó có thể được đáp ứng. Tuy nhiên, thị trường mổi xuất hiện về trao đổi bằng độc quyền sáng chế trên mạng có thế thay đổi bức tranh này, như sẽ được mô tã trong mục tiếp theo.

3. Định giá sở hữu trí tuệ trong bối cảnh tư nhân hóa:

Vấn đề tư nhân hoá (được định nghĩa một cách đơn giàn là việc chuyển tài sán từ khu vực nhà nươc cho khu vực tư nhân) trong thời gian gần đây đã được xác định là vấn đề có ảnh hưởng lơn đến việc xây dựng chính sách và chiến lược SHTT và ngược lại.20 Nghiên cứu của WIPO vể vấn để tư nhân hoá, do một ban tư vấn thực hiện, đã không do dự xác định vấn đề định giá SHTT là một lỉnh vực then chốt và có thể là lĩnh vực quá ít được nghiên cứu nhưng rõ ràng có liên quan đến quyết định tư nhân hoá hay không tư nhân hoá đồng thời đã nêu bật nhiều ví dụ trong đó tài sản thuộc SHTT có thể đã bị định giá thấp hoặc không hề được định giá. Ban này đã lưu ý ràng các tiêu chuẩn kê' toán quốc tế và phương pháp luận định giá hiện tại có thể không thích hợp để tạo cơ sở vững chác cho việc định giá các tài sản trí tuệ, bao gồm tài sản thuộc SHTT trong những quy trình hết sức quan trọng đối vơi nền kinh tế của nhiều nước, đặc biệt là những nền kinh tế đang chuyển đổi sang nguyên tắc thị trưòng tự do. Trong khi ban này kết luận ràng hầu như tư liệu hiện thời không đề cập về vấn đề tư nhân hoá và SHTT như nói ở trên, đã có nhiều sự quan tâm đến việc khảng định ràng SHTT đã nổi lên một cách rất đáng kể trong định giá tài sản vô hình và do đó trong ước định vốn chuyền đổi cũng như giá trị chiến lược của một hãng, mà đến lượt mình đó lại là điều quan trọng đối với việc xử lý vấn đề tư nhân hoá những doanh nghiệp công.

Một trong những số liệu gây nhiều chú ý đối vói ban này là sự gợi ý ràng có tới 50 đến 80% giá trị được một doanh nghiệp tạo ra bắt nguồn từ tài sản trí tuệ chứ không phải từ tài sản vật chất truyền thống, chỉ ra sự chuyển hương trong định giá kinh tế từ vốn vật chất sang vốn vô hình và vốn trí tuệ. Sự chuyển hương này thể hiện rõ ràng trong chiến lược yêu cầu cấp bằng độc quyển sáng chế gần đây của những hãng đa quốc gia, nhờ đó bằng độc quyền sáng chế được xem là có giá trị không chỉ ở ý nghĩa dự định ban đầu đối vơi việc bào hộ sự đổi mơi mà còn đối với thu nhập tiềm năng của doanh nghiệp từ phí li-xăng, sự bảo hộ và sức mạnh chống lại các đối thủ cạnh tranh, hoặc thậm chí là khoản thu nhập thêm vốn không liên quan đến hoạt động kinh doanh chính của doanh nghiệp. Ví dụ, công ty Texas Instruments nổi tiếng là người đi tiên phong trong việc nộp đơn yêu cầu cấp bằng độc quyền sáng chế cho những đổi mđi do các nhóm R&D của công ty tìm ra, khi bằng độc quyền sáng chế có thể có ứng dụng khoa học và kỹ thuật rộng rãi. Ngày càng có nhiều doanh nghiệp nhận thức được ràng việc mạnh dạn khẳng định mình có bằng độc quyền sáng chế có thể tạo ra nhiều lợi thế kinh doanh và họ đang chi những khoản tiền lón cho việc kiểm toán danh mục bằng độc quyền sáng chế để xác định các bằng độc quyền sáng chế cần chú ý về mặt giá trị kinh tế.

Việc định giá tài sản thuộc SHTT như nhãn hiệu hàng hod chẳng hạn, đã trở thành một bộ phận quan trọng trong vốn chuyển đổi của một doanh nghiệp. Theo Interbrand, trong năm 2001 các nhãn hiệu hàng hoá có quy mô toàn thế giói của Coca Cola, Disney và Ford chiếm tương ứng 61, 54 và 66% giá trị vốn chuyển đổi của các công ty này và trị giá tương ứng 69, 32,5 và 30 tỷ USD.22 Khoảng chừng một thập kỷ trước, rất ít công ty thấy hứng thú vói một nguyên tắc định giá nhãn hiệu hàng hoá như vậy.

Cảm ơn quý khách đã gửi yêu cầu đến Công ty Luật Minh Khuê, trên đây là nội dung tư vấn của Công ty, nội dung tư vấn có giá trị tham khảo, nếu còn vấn đề mà quý khách hang còn chưa rõ xin vui lòng liên hệ đến tổng đài của Công ty Luật Minh Khuê 1900.6162 hoặc vui lòng gửi tin nhắn đến email lienhe@luatminhkhue.vn để được giải đáp thắc mắc. Trân trọng!

Bộ phận tư vấn pháp luật - Công ty Luật Minh Khuê