Mục lục bài viết
- 1. Khái niệm
- 2 Đặc điểm
- 2.1 Doanh nghiệp xã hội là doanh nghiệp được đăng ký thành lập theo quy định của Luật doanh nghiệp năm 2020:
- 2.2 Doanh nghiệp xã hội có mục tiêu hoạt động nhằm giải quyết các vấn đề xã hội, môi trường vì lợi ích cộng đồng
- 2.3 Doanh nghiệp xã hội sử dụng phần lớn lợi nhuận để tái đầu tư nhằm thực hiện mục tiêu xã hội, môi trường
- 3. Quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp xã hội
- 3.1 Doanh nghiệp xã hội phải duy trì mục tiêu và điều kiện phân phối lợi nhuận trong suốt quá trình hoạt động.
- 3.2 Doanh nghiệp xã hội được huy động và nhận tài trợ.
- 3.3 Doanh nghiệp xã hội không được sử dụng các khoản tài trợ huy động được cho mục đích khác
- 3.4 Nhà nước có chính sách khuyến khích, hỗ trợ và thúc đẩy phát triển doanh nghiệp xã hội.
1. Khái niệm
Doanh nghiệp xã hội là thuật ngữ pháp lý mới xuất hiện ờ Việt Nam và trong thời gian gần đây thì doanh nghiệp xã hội đang nhận được sự quan tâm của các nhà hoạch định chính sách, cũng như các nhà nghiên cứu khoa học pháp lý. Hiện nay, địa vị pháp lý của doanh nghiệp xã hội được quy định tại Luật doanh nghiệp năm 2020 và các vãn bản hướng dẫn thi hành của đạo luật này.
Luật doanh nghiệp năm 2020 không đưa ra định nghĩa về doanh nghiệp xã hội nhưng có các tiêu chí để xác định doanh nghiệp xã hội. Từ quy định này, chúng ta có thể hiểu, doanh nghiệp xã hội là doanh nghiệp được thành lập theo Luật doanh nghiệp, với mục đích hoạt động nhằm giải quyết vẩn đề xã hội, môi trường vì lợi ích cộng đồng, trong đó sử dụng ít nhất 51% tổng lợi nhuận hằng năm để tái đầu tư nhằm thực hiện mục tiêu xã hội, môi trường. Các đặc điểm dưới đây cũng là các tiêu chí của doanh nghiệp xã hội theo pháp luật Việt Nam.

>> Luật sư tư vấn pháp luật Doanh nghiệp, gọi: 1900.6162
2 Đặc điểm
2.1 Doanh nghiệp xã hội là doanh nghiệp được đăng ký thành lập theo quy định của Luật doanh nghiệp năm 2020:
Theo Luật doanh nghiệp năm 2020 thì doanh nghiệp xã hội có tiêu chí đầu tiên là doanh nghiệp được đăng ký thành lập theo quy định của Luật này. Như vậy, Luật doanh nghiệp năm 2020 không coi doanh nghiệp xã hội là một loại hình doanh nghiệp đặc thù riêng mà cũng giống như doanh nghiệp thông thường. Doanh nghiệp xã hội vẫn tổ chức và hoạt động theo một trong các loại hình doanh nghiệp: Công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh và doanh nghiệp tư nhân . Vì cũng là một doanh nghiệp nên để thành lập doanh nghiệp xã hội, doanh nhân xã hội (người bỏ vốn để thành lập doanh nghiệp xã hội được các tác giả sử dụng thuật ngữ “doanh nhân xã hội”) phải thực hiện các thủ tục pháp lý thông thường để thành lập một doanh nghiệp ưong số các loại hình doanh nghiệp đã được Luật doanh nghiệp năm 2020 quy định. Tiêu chí này thể hiện một trong những đặc điểm cơ bản của doanh nghiệp xã hội, tương tự doanh nghiệp thông thường, đó là có hoạt động kinh doanh.
Hiện nay, thủ tục thành lập doanh nghiệp xã hội được quy định tại Luật doanh nghiệp năm 2020. Giống như mọi doanh nghiệp khác, doanh nghiệp xã hội cũng có tên riêng của mình. Dựa trên các nguyên tắc về tên doanh nghiệp được pháp luật quy định, doanh nhân xã hội sẽ chủ động quyết định đặt tên cho doanh nghiệp xã hội. Quy định có thể bổ sung thêm cụm từ “xã hội” vào tên riêng của doanh nghiệp xã hội là một quy phạm tùy nghi, do người thành lập doanh nghiệp xã hội tự quyết định.
2.2 Doanh nghiệp xã hội có mục tiêu hoạt động nhằm giải quyết các vấn đề xã hội, môi trường vì lợi ích cộng đồng
Theo Luật doanh nghiệp năm 2020 thì doanh nghiệp xã hội có mục tiêu hoạt động nhằm giải quyết các vấn đề xã hội, môi trường vì lợi ích cộng đồng. Các vấn đề xã hội, môi trường và cộng đồng như bảo vệ môi trường, bảo vệ và đáp ứng các quyền cơ bản của con người thông qua các hoạt động tạo công ăn việc làm cho những nhóm người khó hòa nhập, dễ bị tổn thương, cung cấp các dịch vụ y tế, giáo dục, cung cấp nước sạch, xử lý rác thải, ô nhiễm... Chính các mục tiêu xã hội này ,trở thành động lực thôi thúc các doanh nhân xã hội thành lập doanh nghiệp xã hội và sử dụng phương án kinh doanh để giải quyết các vấn đề xã hội.
Doanh nghiệp xã hội phải thông báo Cam kết thực hiện mục tiêu xã hội, môi trường cho cơ quan đăng ký kinh doanh, để công khai trên cổng thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp khi thành lập doanh nghiệp hoặc trong quá trình hoạt động. Thông qua hành vi pháp lý này, một doanh nghiệp thông thường sẽ khoác lên mình “chiếc áo” doanh nghiệp xã hội, từ đó Nhà nước và xã hội có thể nhận biết được địa vị pháp lý của doanh nghiệp xã hội, kèm theo đó là các quyền và nghĩa vụ cùa doanh nghiệp xã hội.
Tiêu chí này góp phần giúp chúng ta có cơ sờ để phân biệt doanh nghiệp xã hội với các doanh nghiệp thông thường khác. Cụ thể, ở doanh nghiệp thông thường, các nhà đầu tư dựa vào thị trường để tìm ra nhu cầu của khách hàng, từ đó lên kế hoạch, chiến lược đầu tư, sản xuất, kinh doanh hàng hóa, cung ứng dịch vụ và thông qua hàng loạt các hoạt động kinh doanh được điều tiết bởi các quy luật của nền kinh tế thị trường để đạt được mục đích cuối cùng là lợi nhuận. Nói cách khác, chính lợi nhuận trở thành động lực để nhà đầu tư quyết định tìm giải pháp kinh doanh, đáp ứng tốt nhất nhu cầu của khách hàng và tối đa hóa lợi nhuận cho mình, có được lợi nhuận, tức nhà đầu tư đã thành công. Trong khi đó, đối với doanh nghiệp xã hội thì yếu tố “sinh lợi” không phải là yếu tố quyết định đến sự ra đời của doanh nghiệp, mà chính từ các vấn đề đang tồn tại trong xã hội. Các vấn đề xã hội trở thành động lực để doanh nghiệp xã hội tìm kiếm và quyết định mô hình kinh doanh phù hợp, suy cho cùng thì doanh nghiệp xã hội sử dụng phương thức kinh doanh để giải quyết vấn đề xã hội mà họ đã phát hiện ra. Khi vấn đề xã hội được giải quyết thì mục đích của doanh nghiệp xã hội đã đạt được, dù có thể chính doanh nghiệp xã hội không thu về được lợi nhuận, thậm chí bị thua lỗ. Như vậy, doanh nghiệp thông thường và doanh nghiệp xã hội là các doanh nghiệp hoạt động theo cơ chế thị trường, nghĩa là phải có doanh thu và lợi nhuận, tuy nhiên chúng khác nhau về bản chất và đích đến .
Trên thực tế, doanh nghiệp xã hội cũng hay bị nhầm lẫn với trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (Coperate Social Responsibilities) . Trách nhiệm xã hội là cam kết nỗ lực cải thiện chất lượng cuộc sống cùa cộng đồng thông qua quá trình kinh doanh và đóng góp của các doanh nghiệp một cách tự nguyện. Bản chất của trách nhiệm xã hội là ghi nhận sự cam kết tự nguyện của doanh nghiệp thực hiện những chuẩn mực đạo đức và xã hội vì mục tiêu con người và phát triển bền vững, mang tính chất là hoạt động bổ sung của doanh nghiệp. Doanh nghiệp thực hiện trách nhiệm xã hội vẫn là các doanh nghiệp thông thường với mục tiêu và bản chất tìm kiếm lợi nhuận. Trong khi đỏ, tôn chỉ, mục đích và toàn bộ hoạt động của trách nhiệm xã hội là để giải quyết vấn đề xã hội hay môi trường đã xác định ngay từ khi thành lập và được duy trì trong suốt quá trình hoạt động, được thể hiện cụ thể, rõ ràng thông qua cam kết thực hiện mục tiêu xã hội, môi trường. Nếu doanh nghiệp xã hội có sự thay đổi hoặc chấm dứt mục tiêu xã hội thì doanh nghiệp xã hội phải thông báo đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
2.3 Doanh nghiệp xã hội sử dụng phần lớn lợi nhuận để tái đầu tư nhằm thực hiện mục tiêu xã hội, môi trường
Doanh nghiệp xã hội khi hoạt động kinh doanh phát sinh lợi nhuận không phân phối như các doanh nghiệp thông thường. Lợi nhuận mà doanh nghiệp có được từ hoạt động sản xuất, kinh doanh được dùng để tái đầu tư vào doanh nghiệp với mục tiêu giải quyết các vấn đề xã hội mà doanh nghiệp xã hội đang theo đuổi. Tiêu chí sử dụng lợi nhuận để tái đầu tư phục vụ các mục tiêu xã hội là điểm phân biệt doanh nghiệp xã hội với các doanh nghiệp thông thường, thể hiện rõ nét tiêu chí “vì xã hội”.
Theo Luật doanh nghiệp năm 2020 thì doanh nghiệp xã hội phải sử dụng ít nhất 51% tổng lợi nhuận hằng năm để tái đầu tư nhằm thực hiện mục tiêu xã hội, môi trường như đã đăng ký. Con số 51% là nhằm mục đích tạo điều kiện, cơ hội cho doanh nghiệp xã hội huy động vốn kinh doanh từ các nhà đầu tư, thành viên, cổ đông khác bằng việc bảo đảm có phần cổ tức nhất định cho các nhà đầu tư này, qua đó góp phần phát triển bền vững cho doanh nghiệp xã hội. Tiêu chí này góp phần định lượng rõ ràng, cụ thể mục tiêu vì xã hội của doanh nghiệp xã hội.
Mục tiêu giải quyết các vấn đề xã hội, môi trường và đem lại lợi ích cho cộng đồng là sứ mệnh cao cả của doanh nghiệp xã hội, đã làm cho doanh nghiệp xã hội khác hẳn với các doanh nghiệp thông thường và cũng không giống với các tổ chức từ thiện. Doanh nghiệp xã hội mang đặc tính “lai” giữa doanh nghiệp thông thường và các tổ chức từ thiện . Một bên là các doanh nghiệp hoạt động vì mục đích tối đa hóa lợi nhuận tài chính, còn một bên là các tổ chức phi chính phủ được thành lập nhằm theo đuổi lợi ích xã hội thuần túy. Vì vậy, doanh nghiệp xã hội là mô hình kết hợp hài hòa về cả hình thức và nội dung của hai chủ thể này để lấy kinh doanh làm lĩnh vực hoạt động chính, nhưng không vì mục tiêu lợi nhuận mà nhằm giải quyết các vấn đề xã hội cụ thể, vì thế mà phần lớn lợi nhuận được dùng để phục vụ cho xã hội, môi trường. Trong bối cảnh hiện nay, khi mà các nguồn vốn viện trợ, tài trợ đang dần rút khỏi Việt Nam, kèm theo đó là các tổ chức thiện nguyện thiếu những thiết chế quản trị tốt, chuẩn mực kế toán... thì doanh nghiệp xã hội là sự lựa chọn lý tưởng. Thông qua việc vận hành doanh nghiệp xã hội, các nhà thiện nguyên có thể giải quyết ữiệt để các vấn đề xã hội, môi trường đem lại lợi ích cho cộng đồng.
Ngoài ra, doanh nghiệp xã hội cũng có một số nét tương đồng với các doanh nghiệp công ích, cả hai đều hướng tới mục tiêu phục vụ nhu cầu của xã hội, có thể đều cung cấp sản phẩm là các dịch vụ mang tính chất phục vụ lợi ích chung của xã hội như cung cấp nước sạch, dọn rác thải, bảo vệ môi trường...1, ở một chừng mực nhất định, các doanh nghiệp này có thể được xếp chung vào nhóm doanh nghiệp có cùng mục đích hoạt động chủ yếu. Tuy nhiên, về bản chất doanh nghiệp xã hội được thành lập tự nguyện bởi các doanh nhân xã hội, doanh nghiệp xã hội mang tính ổn định, nhất quán, được quyết định bởi mục tiêu xã hội, không phụ thuộc vào tính chất của sản phẩm, dịch vụ mà doanh nghiệp cung cấp. Trong khi đó, doanh nghiệp công ích được Nhà nước thành lập nên để sản xuất, cung ứng các sản phẩm, dịch vụ công ích theo phương thức giao nhiệm vụ và được hưởng các ưu đãi đặc biệt2.
3. Quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp xã hội
Doanh nghiệp xã hội khác với các doanh nghiệp thông thường ở mục đích phân phối và sử dụng lợi nhuận. Vì vậy, ngoài các quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp nói chung, doanh nghiệp xã hội còn có các quyền và nghĩa vụ đặc thù tương ứng với mục tiêu giải quyết các vấn đề xã hội theo Luật doanh nghiệp năm 2020. Các quyền và nghĩa vụ quan họng của doanh nghiệp xã hội bao gồm:
3.1 Doanh nghiệp xã hội phải duy trì mục tiêu và điều kiện phân phối lợi nhuận trong suốt quá trình hoạt động.
Như đã phân tích, đặc trưng pháp lý để phân biệt doanh nghiệp xã hội với các doanh nghiệp thông thường là ở mục tiêu và điều kiện phân phối lợi nhuận, vì vậy doanh nghiệp xã hội phải duy trì các tiêu chí này trong suốt quá trình hoạt động của mình. Pháp luật doanh nghiệp quy định các cơ chế để bảo đảm việc tuân thủ mục tiêu xã hội, môi trường của doanh nghiệp xã hội.
3.2 Doanh nghiệp xã hội được huy động và nhận tài trợ.
Theo tìm hiểu và đánh giá của Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương, các doanh nghiệp xã hội ở Việt Nam còn khá non trẻ, được thành lập chủ yếu từ những ý tưởng mang tính cá nhân, có vốn đầu tư ban đầu phần lớn là vốn tự đóng góp của các thành viên sáng lập với quy mô nhỏ. Doanh nghiệp xã hội có đặc thù là không vì mục tiêu lợi nhuận, lại kinh doanh trên các thị trường có rủi ro cao, lợi suất tài chính thấp nên không hấp dẫn các nhà đầu tư thương mại, cùng với đó là chi phí đầu tư cho nhân sự, quản lý của doanh nghiệp xã hội lại lớn hơn so với mức trung bình . Vì vậy, doanh nghiệp xã hội đang gặp nhiều khó khăn trong vấn đề tài chính, do đó những khoản đóng góp, tài trợ từ các tổ chức, cá nhân khác để phần nào bù đắp chi phí quản lý và chi phí hoạt động của doanh nghiệp xã hội là rất cần thiết.
3.3 Doanh nghiệp xã hội không được sử dụng các khoản tài trợ huy động được cho mục đích khác
ngoài bù đắp chi phí quản lý và chi phí hoạt động để giải quyết vấn đề xã hội, môi trường mà doanh nghiệp đã đăng ký. Trên cơ sở mục tiêu giải quyết các vấn đề xã hội, môi trường vì lợi ích của cộng đồng mà các doanh nghiệp xã hội mới có thể huy động được các nguồn tài trợ, còn các nhà tài trợ khi tài trợ vào doanh nghiệp xã hội thì mong muốn khoản tài trợ ấy được sử dụng đúng mục đích và hiệu quả. Xét về bản chất, khoản tài trợ do doanh nghiệp xã hội huy động được không phải là tài sản thuộc sở hữu của doanh nghiệp xã hội, nên việc quyết định sử dụng khoản tài trợ ấy như thế nào bị giới hạn. Do đó, Luật doanh nghiệp năm 2020 quy định doanh nghiệp xã hội chỉ được sử dụng các khoản tài trợ để trang trải chi phí quản lý và chi phí hoạt động để giải quyết vấn đề xã hội, mồi trường mà doanh nghiệp đã đăng ký. Trường họp doanh nghiệp xã hội vi phạm nghĩa vụ này thì sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính
3.4 Nhà nước có chính sách khuyến khích, hỗ trợ và thúc đẩy phát triển doanh nghiệp xã hội.
Với khả năng phát hiện và giải quyết các vấn đề về nhu cầu an sinh xã hội, phục vụ nhu cầu của những người nghèo, yếu thế nhất và đông nhất trong xã hội (nhóm người lâu nay vẫn được bảo trợ từ các chính sách của nhà nước, hay nói cách khác, đây là “gánh nặng” của ngân sách nhà nước), doanh nghiệp xâ hội chia sẻ trách nhiệm với Nhà nước, góp phần rất lớn trong việc tạo công ăn việc làm, thu nhập và cơ hội để nhóm tầng lớp này tự tin, hòa nhập, từ đó giúp họ có cuộc sống ổn định hơn. Doanh nghiệp xã hội đang ra sức giải quyết những vấn đề trong xã hội mà Nhà nước không làm xuể, giá trị mà các doanh nghiệp xã hội mang lại cho xã hội là rất lớn. Do đó, Nhà nước cần xem doanh nghiệp xã hội là người bạn đồng hành cùng với mình trong việc giải quyết các vấn đề xã hội và xây dựng các chính sách tạo điều kiện để doanh nghiệp xẵ hội phát triển.
Trân trọng!
Bộ phận tư vấn pháp luật Doanh nghiệp - Công ty luật Minh Khuê