- 1. Quan điểm đường lối lãnh đạo của Đảng về đổi mới, ổn định và phát triển so với nhận thức về công lý
- 1.1. Nguyên nhân thành công của Đảng
- 1.2. Bài học kinh nghiệm lớn của Đảng
- 2. Đổi mới mô hình lãnh đạo của Đảng phù hợp với tổ chức và hoạt động của Tòa án nhân dân
- 2.1. Mô hình lãnh đạo của ĐCS Việt Nam.
- 2.2. Đổi mới mô hình Đảng lãnh đạo
1. Quan điểm đường lối lãnh đạo của Đảng về đổi mới, ổn định và phát triển so với nhận thức về công lý
Đảng Cộng sản Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập và rèn luyện, là đội tiên phong, trung thành với lợi ích của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam. Mục đích lãnh đạo của Đảng là xây dựng nước Việt Nam độc lập, dân chủ, giàu mạnh, xã hội công bằng, văn minh, không còn người bóc lột người, thực hiện thành công chủ nghĩa xã hội và cuối cùng là chủ nghĩa cộng sản. Thực tiễn chứng minh, Đảng đã lãnh đạo nhân dân Việt Nam tiến hành cuộc đấu tranh cách mạng, giành độc lập, thống nhất, bảo vệ đất nước, thực hiện công cuộc đổi mới, tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập quốc tế, “xây dựng đất nước... từng bước quá độ lên chủ nghĩa xã hội” với nhận thức và tư duy đúng đắn, phù hợp với Việt Nam.
1.1. Nguyên nhân thành công của Đảng
Một Đảng cầm quyền luôn luôn phải lấy dân làm gốc, vì lời ích của dân, không được xa rời dân, đảng viên phải đi đầu, gương mẫu, trong sạch, tiên phong. Đảng viên phải thực sự là người trong sạch, đi đầu tiên phong. Đây là vấn đề vô cùng quan trọng và Đảng cần coi trọng vấn đề này. Bên cạnh đó, cũng cần đưa ra khỏi Đảng những người không đủ tiêu chuẩn, mất phẩm chất hay có vi phạm, thì mới giữ vững được vai trò, uy tín của Đảng.
Xuyên suốt các thành quả đạt được từ khi thành lập cho đến nay, các nguyên nhân thành công của Đảng được Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) đúc rút thành 05 bài học kinh nghiệm lớn, bao gồm:
(i) Nắm vững ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hộ- ngọn cờ vinh quang mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trao lại cho thế hệ hôm nay và các thế hệ mai sau. Độc lập dân tộc là điều kiện tiên quyết để thực hiện chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa xã hội là cơ sở bảo đảm vững chắc cho độc lập dân tộc. Xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa là hai nhiệm vụ chiến lược có quan hệ chặt chẽ với nhau.dù nhiệm vụ và tên gọi của cách mạng trong từng thời kỳ có khác nhau, nhưng bản chất và mục tiêu nhất quán của cuộc cách mạng ấy vẫn là độc lập dân tộc và CNXH. Dù có lúc nói một hay hai ngọn cờ nhằm nhấn mạnh tính chất và nội dung của mỗi thời kỳ cách mạng, ngọn cờ lãnh đạo xuyên suốt của Đảng ta vẫn là độc lập dân tộc và CNXH.
(ii) Xác định sự nghiệp cách mạng là của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân; lấy dân làm gốc, thương dân và hết lòng lo cho dân. Đảng và Nhà nước vẫn luôn đề cao vai trò của trí thức cũng như kiều bào ở nước ngoài. Vì đây là một lực lượng rất đông đảo, là một bộ phận của Việt Nam ngày càng lớn mạnh. Tôi và nhiều trí thức ở Pháp, cũng như ở nhiều nước khác trên thế giới vẫn kỳ vọng là làm thế nào để ngày càng có nhiều trí thức, kiều bào hướng về Đảng.
(iii) Không ngừng củng cố, tăng cường đoàn kết: đoàn kết toàn Đảng, đoàn kết toàn dân, đoàn kết dân tộc, đoàn kết quốc tế. Cho đến nay đều có vai trò vô cùng quan trọng của ĐCS Việt Nam, nhận định đúng tình hình, tận dụng thời cơ - cơ hội, đồng thời phát huy trí tuệ của đảng viên gắn chặt với người dân, vì lợi ích của người dân. Khi đó không có một nhiệm vụ nào hay thế lực nào có thể làm thay đổi được vai trò lãnh đạo của ĐCS Việt Nam. Bởi vì bản thân người dân là người bảo vệ Đảng.
(iv) Kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, sức mạnh trong nước với sức mạnh quốc tế: Đây là một trong những bài học lớn, xuyên suốt trong quá trình đấu tranh giành độc lập dân tộc và xây dựng đất nước. Phát huy bài học này, trong bối cảnh đất nước ta đang ngày một phát triển, có những thay đổi về chất trên nhiều mặt, cũng như trong bối cảnh xuất hiện nhiều xu thế lớn trên thế giới đặt ra những cơ hội và thách thức mới đối với sự phát triển của Việt Nam, Đại hội Đảng XIII tiếp tục hoàn thiện và bổ sung quan điểm chỉ đạo “kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại” để xây dựng và phát triển đất nước.
(v) Sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng đây là nhân tố quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Đảng không có lợi ích nào khác ngoài việc phụng sự tổ quốc, phục vụ nhân dân. Đảng phải nắm vững, vận dụng sáng tạo, góp phần phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, không ngừng làm giàu trí tuệ, nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức và năng lực tổ chức để đủ sức giải quyết các vấn đề do thực tiễn cách mạng đặt ra. Mọi đường lối, chủ trương của Đảng phải xuất phát từ thực tế, tôn trọng quy luật khách quan. Phải phòng và chống những nguy cơ lớn: sai lầm về đường lối, bệnh quan liêu và sự thoái hoá, biến chất của cán bộ, đảng viên
1.2. Bài học kinh nghiệm lớn của Đảng
Qua 30 năm đổi mới, Đảng cũng đúc rút thêm một bài học kinh nghiệm lớn được các Văn kiện Đảng, gần nhất là Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ XII chỉ rõ: “Đổi mới phải toàn diện, đồng bộ, có bước đi phù hợp; tôn trọng quy luật khách quan, xuất phát từ thực tiễn, bám sát thực tiễn, coi trọng tổng kết thực tiễn” . Trong các bài học kinh nghiệm đó, có 05 bài học thuộc về nền tảng xã hội rộng lớn mà Đảng đã xác định đúng, đã quyết định cho sự lãnh đạo thành công của Đảng từ trước đến nay và sẽ lâu dài về sau, đó là xác định mặt xã hội rộng lớn làm nền tảng cho sự lãnh đạo về mặt giai cấp của Đảng, lấy “thực tiễn khách quan”, “cái chung”, cái “đại cục” làm ngọn cờ quy tụ, đoàn kết các lực lượng xung quanh Đảng để thực hiện thành công mọi cuộc cách mạng. “Cái chung” này cũng là cái đúng đắn, ổn định, xuyên suốt chiều dài lịch sử, dựa trên quyền sống, quyền tự do, quyền mưu cầu hạnh phúc của quyền con người, các giá trị văn hóa, nhân văn, nhân đạo, bình đẳng, tiến bộ, dân chủ, công bằng... là nền tảng, là mục đích của sự phát triển, phù hợp với bản chất tiến bộ của giai cấp công nhân mà Đảng làm đại diện. Lịch sử đã minh chứng, trong quá trình đấu tranh, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn để cao lợi ích chung đúng đắn làm ngọn cờ triệu tập, cổ vũ toàn dần để làm cuộc cách mạng thành công. Trong lời kêu gọi để xây tinh thần đoàn kết, Người đã viết: “Toàn thể đồng bào hãy quyết tâm đoàn kết rộng rãi và chặt chẽ... đấu tranh kiên quyết và bên bỉ cho một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh. Thống nhất nước nhà là con đường sống của nhân dân ta.
Đại đoàn kết là một lực lượng tất thắng. Nhờ đại đoàn kết mà cách mạng thắng lợi, kháng chiến đã thành công. Nay chúng ta đại đoàn kết thì cuộc đấu tranh chính trị của chúng ta nhất định thắng lợi, nước nhà nhất định thống nhất” . Đại đoàn kết dân tộc là một giá trị tinh thần to lớn, một truyền thống cực kì quý báu của dân tộc ta, được hun đúc trong suốt mấy nghàn năm đấu tranh dựng nước và giữ nước. Đoàn kết đã trở thành một động lực to lớn, một triết lý nhân sinh và hành động để dân tộc ta vượt qua bao biến cố, thăng trầm của thiên tai, địch họa, để tồn tại và phát triển bền vững. Trên cơ sở thực tiễn cách mạng Việt Nam và thực tiễn cách mạng thế giới đã sớm hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc.
Những vấn đề đó đều liên quan mật thiết đến vấn đề “ổn định” mà Đảng luôn đưa vào các chính sách, đường lối chung từ trước đến nay, và hiện nay được Đảng xác định là một trong 9 mối quan hệ lớn mà Đảng phải nắm vững và giải quyết tốt, đó là mối quan hệ giữa “đổi mới, ổn định và phát triển” (Văn kiện Đại hội Đảng xi, XII).
Về nội hàm “công lý”, lý luận đã chỉ ra, đó là những lẽ đúng đắn được thừa nhận chung trong xã hội, là “hạt nhân hợp lý” của thuộc tính xã hội, là “lẽ chung đúng đắn” trong ý thức xã hội nói chung và ý thức pháp luật nói riêng của các giai tầng trong xã hội. Công lý có chứa đựng những giá trị truyền thống, những quy tắc cốt lõi, những quyền, lợi ích, giá trị cơ bản thuộc về bản chất của con người... nên công lý có tính ổn định rất cao, đóng vai trò góp phần quan trọng trong việc duy trì, giữ vững trật tự ổn định xã hội. “Công lý” đã được Đảng đặt trong mối hên hệ mật thiết với công tác tư pháp và cải cách tư pháp, được thể hiện trong các văn kiện quan trọng. Như Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị: “Các cơ quan tư pháp phải thật sự là chỗ dựa của nhân dân trong việc bảo vệ công lý, quyển con người... Xây dựng nền tư pháp... vững mạnh, dân chủ, nghiêm minh, bảo vệ công lý...”, Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ XI năm 2011: “Xây dựng hệ thống tư pháp trong sạch, vững mạnh, bảo vệ công lý, tôn trọng và bảo vệ quyền con người”, Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ XII năm 2016: “Xây dựng nền tư pháp trong sạch, vững mạnh, dân chủ, nghiêm minh, từng bước hiện đại; bảo vệ pháp luật, công lý, quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức và cá nhân”...
Qua đó cho thấy, có một mối liên hệ tự nhiên giữa vấn đề “công lý” với vấn đề “ổn định” mà Đảng đang đặt ra. Bảo vệ công lý sẽ trở thành một trong những nhiệm vụ quan trọng để góp phần hướng đến “ổn định” và để giải quyết tốt mối quan hệ giữa “đổi mới, ổn định và phát triển”. Từ đó mới thấy hết được ý nghĩa, vai trò quan trọng của Tòa án nhân dân khi được Đảng và Hiến pháp giao nhiệm vụ thực hiện quyền tư pháp bảo vệ công lý.
2. Đổi mới mô hình lãnh đạo của Đảng phù hợp với tổ chức và hoạt động của Tòa án nhân dân
2.1. Mô hình lãnh đạo của ĐCS Việt Nam.
Việt Nam là nước theo mô hình nhà nước xã hội chủ nghĩa, Đảng Cộng sản Việt Nam là chính đảng duy nhất cầm quyền, là nguyên tắc, là thể hiện tính giai cấp của nhà nước.
Với bản chất giai cấp công nhân của mình, Đảng Cộng sản Việt Nam không chỉ là một đảng chính trị mang tính giai cấp đơn thuần, mà còn là một đảng của nhân dân lao động và của cả dân tộc. Như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Đảng ta là
Đảng của giai cấp, của nhân dân, của thế giới... Đảng không thiên tư, thiên vị”, “quyền lợi của giai cấp công nhân và nhân bản lao động và của cả dân tộc là một..., cho nên nó phải là Đảng của dân tộc Việt Nam” . Đảng Cộng sản Việt Nam vừa mang tính giai cấp và vừa mang tính xã hội sâu sắc, với hai thuộc tính bổ sung, hỗ trợ cho nhau, tồn tại một cách tự nhiên, không gượng ép. Do đó, trong tổ chức và hoạt động của mình, bên cạnh nhu cầu thực hiện, bảo vệ tính giai cấp, Đảng còn có nhu cầu thực hiện, bảo vệ tính xã hội xoay quanh “hạt nhân hợp lý” của nó như là một nhu cầu tự nhiên gắn với sự tồn tại và đảm bảo sự tồn tại của Đảng.
Trong tổ chức và hoạt động, Đảng đề cao sự thống nhất ý chí và hành động; thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách, thương yêu đồng chí, kỷ luật nghiêm minh, thực hiện nguyên tắc tự phê bình và phê bình, đoàn kết trên cơ sở Cương lĩnh chính trị và Điều lệ Đảng, gắn bó mật thiết với Nhân dân, hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật . Đảng lãnh đạo Nhà nước và xã hội theo phương châm “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dần làm chủ” bằng các phương thức chủ yếu như: Để ra chủ trương, đường lối, chính sách cho tổ chức và hoạt động của Nhà nước; quyết định công tác cán bộ; tổ chức hệ thống các cơ sở của Đảng bên cạnh và trong lòng các cơ quan nhà nước; giám sát, kiểm tra cơ quan nhà nước trong việc chấp hành cương lĩnh, điều lệ, chủ trương, đường lối, nghị quyết của Đảng; vận động, thuyết phục, giáo dục quần chúng nhân dân nghiêm chỉnh chấp hành chính sách, pháp luật, tham gia xây dựng chính quyền nhân dân... Có thể khẳng định, Đảng Cộng sản Việt Nam “hòa” vào Nhà nước thành một thực thể thống nhất, không thể chia cắt.
Trở lại vấn đề công lý, như các phần trên đã đề cập, việc thực hiện quyền tư pháp bảo vệ công lý có ý nghĩa khẳng định vai trò quyết định của tính xã hội đối với tính giai cấp, của cái chung đúng đắn đối với những cái chung..., qua đó sẽ góp phần kiểm soát quyền lực nhà nước, thuyết phục xã hội đồng tình, chấm dứt các vụ việc tranh cãi pháp lý, góp phần duy trì trật tự xã hội ổn định. Quyền tư pháp không thể bị đánh giá thấp hơn quyền lập pháp và quyền hành pháp; và Tòa án là cơ quan thực hiện quyền tư pháp cũng như các cán bộ thực hiện việc xét xử phải có tính độc lập tương đối trong quan hệ với các cơ quan, tổ chức khác để có cái nhìn khách quan, toàn diện trong hoạt động của mình. Đây là yêu cầu khách quan của quản lý nhà nước.
Có ý kiến cho rằng, vì giai cấp công nhân có tính xã hội rộng lớn nên việc thực hiện tính giai cấp là đã thực hiện tính xã hội. Ý kiến đó đúng nhưng chưa đủ, dù giai cấp công nhân có tính xã hội rộng lớn đến đâu thì giai cấp công nhân vẫn mang tính giai cấp, chỉ khi đến xã hội cộng sản, tính giai cấp công nhân của lực lượng lãnh đạo mới mất đi, xã hội lúc đó sẽ tự quản như quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lê nin đã khẳng định. Bản chất giai cấp công nhân chỉ giúp cho việc thực hiện tính xã hội xoay quanh “hạt nhân hợp lý” của nó được thuận lợi, dễ dàng, còn việc bảo đảm tính xã hội cùng với “hạt nhân hợp lý” của nó vẫn phải được tôn trọng và thực hiện nghiêm chỉnh thì tính giai cấp giữ địa vị thống trị mới có thể duy trì lâu dài và đạt được mục đích của mình.
2.2. Đổi mới mô hình Đảng lãnh đạo
Thực tiễn hiện nay cho thấy, trước yêu cầu về việc xây dựng, hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và nhất là trước tình hình suy thoái đạo đức chính trị nghiêm trọng của một bộ phận đảng viên trong Đảng, Đảng đang tự đặt ra yêu cầu cải cách tổ chức và hoạt động của mình. Do đó, yêu cầu thực hiện và bảo vệ tính xã hội, bảo vệ công lý, để giữ vững sự ổn định, thể hiện qua việc giữ gìn kỷ luật Đảng, giám sát việc tuân theo Cương lĩnh, Điều lệ, Hiển pháp và pháp luật, giữ vững lập trường chính trị, đạo đức cách mạng... là nhu cầu hết sức cần thiết. Đặc biệt hiện nay khi thực hiện chủ trương nhất thể hóa thì nhiệm vụ giữ vững sự ổn định của Đảng càng trở nên cấp bách hơn bao giờ hết.
Trên cơ sở đó, theo góc độ nghiên cứu, Đảng nên chăng cần nghiên cứu thành lập Ban Kiểm soát quyền lực Trung ương do Đại hội đại biểu toàn quốc lập ra, gồm các Chủ nhiệm, Phó chủ nhiệm, ủy viên và ủy viên dự khuyết, hoạt động bên cạnh Ban Chấp hành Trung ương nhưng có nhiệm kỳ dài hơn Ban Chấp hành Trung ương, có thể là 10 năm. Ban Chấp hành Trung ương tổ chức thực hiện Nghị quyết của Đảng, còn Ban Kiểm soát quyền lực Trung ương phụ trách công tác kỷ luật Đảng, bảo vệ, giám sát việc thực hiện Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, Hiến pháp, pháp luật... thực hiện lãnh đạo công tác tư pháp, các cơ quan, tổ thức trong hệ thống tư pháp (Tòa án, Viện kiểm sát, Cơ quan điều tra, Thi hành án, bổ trợ tư pháp...) theo những yêu cầu khách quan của việc thực hiện quyền tư pháp đòi hỏi. Ban Kiểm soát quyền lực Trung ương chỉ chịu trách nhiệm trước Đại hội đại biểu toàn quốc và có trách nhiệm báo cáo công tác trước Ban Chấp hành Trung ương để phối hợp công tác.
Để đổi mới mô hình lãnh đạo thì những điều sau cũng đóng góp một phần cụ thể
- Thống nhất nhận thức về sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước; nhận thức rõ mối quan hệ giữa Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ trong Nhà nước pháp quyền XHCN
- Kiện toàn, đổi mới tổ chức bộ máy nhà nước; nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức; nâng cao chất lượng xây dựng và tổ chức thực hiện luật pháp, chính sách, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch
- Hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực trong các tổ chức Đảng, các cơ quan nhà nước và giữa các tổ chức của hệ thống chính trị; thể chế hóa vai trò của nhân dân kiểm tra, giám sát các tổ chức Đảng, cơ quan Nhà nước, cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức
- Hợp nhất những cơ quan đảng và nhà nước tương đồng về chức năng, nhiệm vụ; mở rộng thực hiện bí thư cấp uỷ đồng thời là chủ tịch uỷ ban nhân dân cấp huyện, cấp xã ở những nơi có đủ điều kiện
Công tác tổ chức cán bộ thực hiện quyền tư pháp do Ban Kiểm soát quyền lực Trung ương thực hiện. Ban giới thiệu các ủy viên của Ban làm Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao để Quốc hội phê chuẩn và Chủ tịch nước bổ nhiệm; trong số các ủy viên của Ban và Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, bầu ra Chánh án Tòa án nhân dân tối cao để báo cáo công tác trước Quốc hội, đồng chí đó có thể là Chủ nhiệm Ban, để chịu sự giám sát của Đảng và Nhân dân cả nước. Ban phối hợp với Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị bầu chọn thành viên của Tòa án hiến pháp để Quốc hội phê chuẩn. Ban thống nhất công tác bổ nhiệm Thẩm phán của Tòa án các cấp, thực hiện việc bầu chọn Chánh án trong số các Thẩm phán để quản lý công việc mang tính chuyên môn và quản lý chung, đại diện Tòa án báo cáo công tác trước Hội đồng nhân dân để chịu sự giám sát của nhân dân địa phương; Chánh án địa phương không tham gia cấp ủy địa phương và Hội đồng nhân dân. Ban lãnh đạo công tác xét xử thống nhất từ trên xuống dưới trên cơ sở Hiến pháp và pháp luật, bảo đảm nguyên tắc độc lập và chỉ tuân theo pháp luật...
Nói tóm lại, mô hình tổ chức như trên sẽ giúp cho việc phân công, sắp xếp lại công việc của Đảng khoa học, phù hợp hơn với yêu cầu tổ chức thực hiện quyền lực khách quan của nhà nước để Đảng lãnh đạo nhà nước ngày càng hiệu quả hơn.
Bộ phận tư vấn pháp luật - Luật Minh Khuê