1. Dùng ảnh bản đồ Việt Nam thể hiện sai chủ quyền bị thu hồi tên miền?
Theo quy định của điểm e khoản 3 và khoản 4 của Điều 100 trong Nghị định 15/2020/NĐ-CP, được sửa đổi bởi điểm d khoản 36 Điều 1 trong Nghị định 14/2022/NĐ-CP, và khoản 5 của Điều 100 trong Nghị định 15/2020/NĐ-CP, các hành vi vi phạm liên quan đến trách nhiệm của tổ chức và doanh nghiệp thiết lập mạng xã hội sẽ bị xử phạt một cách nghiêm ngặt.
Đầu tiên, việc lưu trữ, truyền đưa thông tin giả mạo, thông tin sai sự thật, hoặc thông tin bịa đặt, vu khống, xuyên tạc, có thể dẫn đến hậu quả nghiêm trọng đối với uy tín của tổ chức và danh dự của cá nhân. Người vi phạm sẽ bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 70.000.000 đồng.
Tiếp theo, việc cung cấp thông tin khuyến khích các hủ tục, mê tín, dị đoan, hoặc thông tin miêu tả chi tiết về hành động bạo lực, kinh dị có thể gây ảnh hưởng tiêu cực đến thuần phong, mỹ tục của dân tộc. Hành vi này cũng bị xử phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 70.000.000 đồng.
Ngoài ra, việc đăng, phát, hoặc sử dụng hình ảnh bản đồ Việt Nam không chính xác hoặc không thể hiện đầy đủ chủ quyền quốc gia cũng bị coi là một hành vi vi phạm nghiêm trọng, đòi hỏi sự can thiệp quyết liệt của cơ quan chức năng. Hành vi này cũng sẽ bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 70.000.000 đồng.
Cuối cùng, để đảm bảo tuân thủ và khắc phục hậu quả của hành vi vi phạm, biện pháp bổ sung như tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính hoặc tước quyền sử dụng Giấy phép thiết lập mạng xã hội có thể được áp dụng.
- Tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính đối với hành vi vi phạm quy định;
- Tước quyền sử dụng Giấy phép thiết lập mạng xã hội từ 03 tháng đến 06 tháng đối với hành vi vi phạm quy định.
- Buộc gỡ bỏ thông tin sai sự thật hoặc gây nhầm lẫn hoặc thông tin vi phạm pháp luật đối với hành vi vi phạm;
- Buộc thu hồi tên miền do thực hiện hành vi vi phạm quy định.
Doanh nghiệp nếu sử dụng hình ảnh bản đồ Việt Nam sai chủ quyền quốc gia trong hoạt động mạng xã hội sẽ phải chịu hậu quả là buộc thu hồi tên miền. Ngoài ra, vi phạm này còn bị áp đặt mức phạt nặng từ 50.000.000 đồng đến 70.000.000 đồng, cùng với việc tịch thu tài sản và phương tiện liên quan. Điều đáng chú ý, doanh nghiệp cũng sẽ bị tước quyền sử dụng giấy phép thiết lập mạng xã hội trong khoảng thời gian từ 03 đến 06 tháng. Các biện pháp này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tuân thủ đúng quy định pháp luật và sự nghiêm túc trong việc sử dụng thông tin và hình ảnh đại diện quốc gia trên các nền tảng mạng xã hội.
2. Những nội dung bị loại bỏ khi doanh nghiệp thiết lập mạng xã hội phối hợp cơ quan nhà nước
Căn cứ vào Điều 25 của Nghị định 72/2013/NĐ-CP về quyền và nghĩa vụ của tổ chức và doanh nghiệp thiết lập mạng xã hội, các điều quy định sau được áp đặt:
- Cấm các hành vi vi phạm:
+ Tổ chức và doanh nghiệp không được tự ý cung cấp thông tin công cộng vi phạm quy định.
+ Lợi dụng dịch vụ Internet và thông tin trên mạng nhằm mục đích chống lại Nhà nước, gây hại đến an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội, phá hoại đoàn kết dân tộc, tuyên truyền chiến tranh, khủng bố, gây hận thù giữa các dân tộc, sắc tộc, tôn giáo, tuyên truyền bạo lực, dâm ô, tội ác, tệ nạn xã hội, mê tín dị đoan, phá hoại thuần phong mỹ tục, tiết lộ bí mật nhà nước, quân sự, an ninh, kinh tế, đối ngoại, xuyên tạc thông tin, quảng cáo hàng hóa bị cấm, giả mạo tổ chức, cá nhân, cản trở hoạt động hợp pháp của Internet và thông tin trên mạng.
- Phối hợp với cơ quan quản lý nhà nước: Tổ chức và doanh nghiệp phải hợp tác với cơ quan quản lý nhà nước để loại bỏ hoặc ngăn chặn thông tin vi phạm quy định khi có yêu cầu.
- Cung cấp thông tin cá nhân liên quan đến tội phạm: Tổ chức và doanh nghiệp cần cung cấp thông tin cá nhân và thông tin riêng của người sử dụng khi có yêu cầu từ cơ quan quản lý nhà nước liên quan đến các hoạt động khủng bố, tội phạm hoặc vi phạm pháp luật.
Như vậy, tổ chức và doanh nghiệp thiết lập mạng xã hội phải chịu trách nhiệm phối hợp với cơ quan quản lý nhà nước để loại bỏ hoặc ngăn chặn mọi thông tin vi phạm quy định.
- Cấm mọi hành vi cung cấp thông tin công cộng vi phạm quy định, cũng như lợi dụng dịch vụ Internet và thông tin trên mạng để thực hiện các hành vi vi phạm pháp luật, gây hại đến an ninh quốc gia và trật tự xã hội.
- Phối hợp tích cực với cơ quan quản lý nhà nước để loại bỏ hoặc ngăn chặn thông tin có nội dung vi phạm quy định khi có yêu cầu.
- Cung cấp thông tin cá nhân và thông tin riêng của người sử dụng khi được yêu cầu từ cơ quan quản lý nhà nước liên quan đến các hoạt động có liên quan đến tội phạm hoặc vi phạm pháp luật.
3. Thời hạn doanh nghiệp thiết lập mạng xã hội phải loại bỏ ngay nội dung vi phạm
Căn cứ vào quy định của khoản 2 Điều 23d Nghị định 72/2013/NĐ-CP, được bổ sung bởi khoản 11 Điều 1 Nghị định 27/2018/NĐ-CP về điều kiện về quản lý nội dung thông tin đối với trang thông tin điện tử tổng hợp và mạng xã hội, các điều kiện cụ thể về quản lý thông tin đối với mạng xã hội được quy định như sau:
- Thỏa thuận cung cấp và sử dụng dịch vụ mạng xã hội: Các mạng xã hội phải có thỏa thuận cung cấp và sử dụng dịch vụ mạng xã hội phù hợp theo các quy định và phải được đăng tải trên trang chủ của mạng xã hội.
- Thỏa thuận sử dụng dịch vụ mạng xã hội: Người sử dụng phải đồng ý thỏa thuận sử dụng dịch vụ mạng xã hội bằng phương thức trực tuyến để có thể sử dụng được các dịch vụ, tiện ích của mạng xã hội.
- Loại bỏ nội dung vi phạm: Mạng xã hội phải có cơ chế phối hợp để loại bỏ ngay nội dung vi phạm chậm nhất sau 03 giờ kể từ khi tự phát hiện hoặc có yêu cầu của Bộ Thông tin và Truyền thông hoặc cơ quan cấp phép.
- Bảo vệ thông tin cá nhân: Mạng xã hội cần có biện pháp bảo vệ bí mật thông tin riêng, thông tin cá nhân của người sử dụng.
- Quyền quyết định của người sử dụng: Bảo đảm quyền quyết định của người sử dụng trong việc cho phép thu thập thông tin cá nhân của mình hoặc cung cấp cho tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân khác.
Vì vậy, các doanh nghiệp muốn thiết lập mạng xã hội phải tạo ra cơ chế phối hợp linh hoạt, nhằm loại bỏ ngay những nội dung vi phạm theo quy định của Điều 5 Nghị định 72/2013/NĐ-CP. Điều này cần được thực hiện trong thời gian không quá 03 giờ kể từ khi phát hiện tự nhiên hoặc khi có yêu cầu từ Bộ Thông tin và Truyền thông hoặc các cơ quan cấp phép, qua các phương tiện như văn bản, điện thoại hoặc email. Điều này nhằm đảm bảo tính minh bạch, an toàn và quyền lợi của người sử dụng trong quá trình sử dụng các dịch vụ mạng xã hội, đồng thời tăng cường trách nhiệm của các tổ chức quản lý mạng xã hội trong việc kiểm soát và quản lý nội dung trên các nền tảng mạng xã hội.
Quý khách có nhu cầu xem thêm bài viết sau: Trích lục bản đồ địa chính là gì? Giấy tờ cần có khi trích lục bản đồ địa chính?
Nếu quý khách hàng đang gặp phải bất kỳ vấn đề pháp lý nào hoặc có câu hỏi cần được giải đáp, xin vui lòng không ngần ngại liên hệ với chúng tôi thông qua Tổng đài tư vấn pháp luật trực tuyến qua số hotline 1900.6162. Đội ngũ chuyên gia của chúng tôi sẵn sàng lắng nghe và cung cấp sự tư vấn chuyên nghiệp để giúp quý khách giải quyết mọi vấn đề một cách hiệu quả và đúng luật. Ngoài ra, quý khách hàng cũng có thể gửi yêu cầu chi tiết qua email: lienhe@luatminhkhue.vn để được hỗ trợ và giải đáp mọi thắc mắc một cách nhanh chóng. Chúng tôi cam kết đáp ứng mọi yêu cầu của quý khách hàng một cách chu đáo và chất lượng.