1. Giới thiệu tác giả

Giáo trình Luật an sinh xã hội – Trường Đại học Luật Hà Nội do do TS. Nguyễn Kim Phụng chủ biên, cùng sự tham gia biên soạn của tập thể tác giả là giảng viên trường Đại học Luật Hà Nội.

Tập thể tác giả:

PGS.TS. Phạm Coogn Trứ

PGS.TS. Nguyễn Hữu Chí

TS. Lưu Bình Nhưỡng

TS. Nguyễn Thị Kim Phụng

TS. Trần Thị Thúy Lâm

TS. Đỗ Ngân Bình

TS. Nguyễn Xuân Thu

TS. Nguyễn Hiền Phương

ThS. Đỗ Thị Dung

 

2. Giới thiệu hình ảnh sách

Giáo trình Luật an sinh xã hội – Trường Đại học Luật Hà Nội

Giáo trình Luật an sinh xã hội – Trường Đại học Luật Hà Nội 

Tác giả: TS. Nguyễn Kim Phụng chủ biên

Nhà xuất bản Công an nhân dân

3. Tổng quan nội dung sách

Ở Việt Nam, các quy định nhằm mục đích an sinh xã hội xuất hiện từ rất sớm nhưng lý luận về lĩnh vực pháp luật này chị mới được chú trọng trong những năm gần đây. Trong điều kiện phát triển nền kinh tế thị trường, an sinh xã hội trở nên rất quan trọng. Đó là hệ thống chính sách nhiều tầng để tất cả các thành viên trong xã hội đều được tương trợ, giúp đỡ ở mức độ hợp lý khi bị giảm, mất thu nhập hoặc khó khăn, hoạn nạn trong cuộc sống. Việc đưa môn học luật an sinh xã hội vào chương trình đào tạo cử nhân luật của Trường Đại học Luật Hà Nội là việc làm rất thiết thực, mang nhiều ý nghĩa về lý luận và thực tiễn, đáp ứng các yêu cầu mới đặt ra trong đời sống kinh tế xã hội của đất nước.

Nhằm cung cấp tài liệu phục vụ việc giảng dạy, học tập môn học này, Trường Đại học Luật Hà Nội đã tổ chức biên soạn giáo trình luật an sinh xã hội.

Cuốn giáo trình được biên soạn với cấu trúc chương mục như sau:

Chương 1: Luật an sinh xã hội trong hệ thống pháp luật Việt Nam

Khái niệm luật an sinh xã hội

Mối quan hệ giữa lượng an sinh xã hội và một số ngành luật khác

Các nguyên tắc cơ bản của luật an sinh xã hội

Nguồn của luật an sinh xã hội

Tổ chức lao động quốc tế và an sinh xã hội

Vai trò, ý nghĩa của luận án sinh xã hội

Lịch sử luật an sinh xã hội Việt Nam

Chương 2: Quan hệ pháp luật an sinh xã hội

Khái niệm, đặc điểm của quan hệ pháp luật an sinh xã hội

Các quan hệ pháp luật an sinh xã hội cụ thể

Chương 3: Bảo hiểm xã hội

Khái quát chung về bảo hiểm xã hội

Chế độ bảo hiểm ốm đau

Chế độ bảo hiểm tài sản

Chế độ bảo hiểm tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp

Chế độ bảo hiểm hưu trí

Chế độ tử tuất

Bảo hiểm thất nghiệp

Chương 4: Bảo hiểm y tế

Khái quát chung về bảo hiểm y tế

Chế độ bảo hiểm y tế

Chương 5: Chế độ ưu đãi xã hội

Khái quát chung về yêu đãi xã hội

Các đối tượng được hưởng ưu đãi xã hội và thủ tục xác nhận

Các chế độ ưu đãi xã hội

Chương 6: Chế độ trợ giúp xã hội

Khái quát chung về chế độ trợ giúp xã hội

Chế độ trợ giúp xã hội

Chương 7: Giải quyết tranh chấp an sinh xã hội

Những vấn đề chung về tranh chấp an sinh xã hội

Giải quyết tranh chấp an sinh xã hội

4. Đánh giá bạn đọc

Giáo trình luật an sinh xã hội - Trường đại học Luật Hà Nội biên soạn, giới thiệu tới người học, người đọc những nội dung cơ bản của môn học Luật An sinh xã hội, bao gồm: quan hệ pháp luật an sinh xã hội, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, chế độ ưu đãi xã hội, chế độ trợ giúp xã hội và giải quyết tranh chấp an sinh xã hội.

Cuốn giáo trình là học liệu quan trọng và cần thiết phục vụ học tập và giảng dạy bộ môn Luật an sinh xã hội (chính sách bảo hiểm, chế độ ưu đãi xã hội, chế độ trợ giúp xã hội) của học viên, sinh viên và giảng viên trường đại học luật Hà Nội, đồng thời đây cũng là tài liệu tham khảo hữu ích đối với bạn đọc có nhu cầu tìm hiểu về lĩnh vực này.

5. Kết luận

Hy vọng những chia sẻ trên đây của chúng tôi sẽ là một nguồn tư liệu đánh giá chất lượng sách hiệu quả tin cậy của bạn đọc. Nếu thấy chia sẻ của chúng tôi hữu ích, bạn hãy lan tỏa nó đến với nhiều người hơn nhé! Chúc các bạn đọc sách hiệu quả và thu được nhiều thông tin hữu ích từ cuốn sách “Giáo trình Tâm lý học tư pháp - Trường Đại học Luật Hà Nội".

Luật Minh Khuê chia sẻ dưới đây nội dung đối tượng của Luật an sinh xã hội Việt Nam để bạn đọc tham khảo:

Những quan hệ xã hội là đối tượng của luật an sinh xã hội Việt nam

Như tên gọi của nó, đối tượng của luật an sinh xã hội là những quan hệ xã hội hình thành trong lĩnh vực an sinh xã hội. An sinh xã hội là một cấn đề phong phú, phức tạp, là một "khái niệm mở" nên có thể hiểu theo hai nghĩa "rộng" và "hẹp".

Theo nghĩa rộng, an sinh xã hội bao trùm lên nhiều mặt cuộc sống của con người. Đó là các quan hệ hình thành trong lnhx vực nhằm ổn định đời sống, nâng cao chất lượng sống của các thành viên xã hội, góp phần ổn định, phát triển và tiến bộ xã hội. Theo nghĩa này, an sinh xã hội có thể bao gồm các nhóm quan hệ sau:

- Nhóm quan hệ trong lĩnh vực giải quyết việc làm, chống thất nghiệp;

- Nhóm quan hệ trong lĩnh vực chăm sóc y tế, bảo vệ sức khỏe nhân dân;

- Nhóm quan hệ trong lĩnh vực dân số, kế hoạch hóa gia đình;

- Nhóm quan hệ trong lĩnh vực bảo hiểm xã hội;

- Nhóm quan hệ trong lĩnh vực cứu trợ xã hội;

- Nhóm quan hê trong lĩnh vực ưu đãi xã hội

- Nhóm quan hệ trong lĩnh vực môi trường....

Theo nghĩa hẹp, an sinh xã hội là sự bảo vệ của xã hội đối với các thành viên của mình, trước hết và chủ yếu là những trường hợp bị giảm sút thu nhập đáng kể do gặp phải những rủi ro như ốm đau, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, tàn tật, mất việc làm, mất người nuôi dưỡng, nghỉ thai sản, về già cũng như các trường hợp bị thiên tai, dịch họa. Đồng thời, xã hội cũng ưu đãi những thành viên của mình đã có những hành động xả thân vì nước, vì dân, có cống hiến đặc biệt cho sự nghiệp cách mạng, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam. Theo nghĩa này, an sinh xã hội bao gồm các nhóm quan hệ chủ yếu sau:

- Nhóm các quan hệ bảo hiểm xã hội

- Nhóm các quan hệ cứu trợ xã hội

- NHóm các quan hệ ưu đãi xã hội

- Nhóm các quan hệ bảo hiểm y tế

Đây cũng chính là các nhóm quan hệ thuộc đối tượng điều chỉnh chủ yếu của luật an sinh xã hội Việt Nam. Dưới đây chúng ta sẽ xem xét cụ thể từng nhóm quan hệ ấy.

Nhóm thứ nhất. Quan hệ bảo hiểm xã hội

Quan hệ bảo hiểm xã hội có một số điểm đặc trưng sau:

- Đối tượng hưởng bảo hiểm chủ yếu áp dụng đối với người lao động hiểu theo nghĩa rộng. Đó có thể là công chức, cán bộ nhà nước, người lao động "làm công ăn lương", người lao động ở các khu vực kinh tế khác và những người phục vụ trong lực lượng vũ trang.

- Hình thức bảo hiểm thường có hai loại là bảo hiểm bắt buộc và bảo hiểm tự nguyện. Với hình thức bảo hiểm bắt buộc thì mức độ đóng góp và các chế độ được hưởng được quy định cụ thể trong văn bản pháp luật. Còn với hình thức bảo hiểm tự nguyện thì pháp luật thường có quy định mở để cho người tham gia bảo hiểm tự lựa chọn mức thu nhập cần bảo hiểm để đóng góp và hưởng chế độ bảo hiểm.

- Nguồn trợ cấp bảo hiểm do "các bên" tham gia bảo hiểm đóng góp, chủ yếu là ba bên: Người lao động, người sử dụng lao động, sự hỗ trợ của Nhà nước. Từ sự đóng góp của các bên tham gia bảo hiểm theo tỷ lệ quy định mà hình thành nên quỹ bảo hiểm xã hội. Quỹ bảo hiểm xã hội là quỹ tiền  tệ tập trung, do cơ quan chức năng quản lý thống nhất theo chế độ tài chính, hạch toán độc lập và được Nhà nước bảo hộ.

- Mức trợ cấp bảo hiểm chủ yếu căn cứ vào mức độ đóng góp của người lao động vào quỹ bảo hiểm xã hội nhiều hay ít và mức độ rủi ro, thương tật của người lao động cao hay thấp. Về cơ bản, mức hưởng bảo hiểm được quán triệt theo nguyên tắc "phân phối theo lao động". Tuy nhiên, trong một số trường hợp còn vận dụng cả nguyên tắc tương trợ "lấy số đông bù số ít".

- Chế độ hưởng và thời gian hưởng bảo hiểm bao gồm các chế độ trợ cấp như: Ốm đau, thai sản, tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, hưu trí, tử tuất và thất nghiệp. Thời gian hưởng trợ cấp thường là ổn định lâu dài.

Quan hệ bảo hiểm xã hội được phân ra làm hai loại:

- Quan hệ trong việc tạo lập quỹ bảo hiểm xã hội (nguồn trợ cấp)

- Quan hệ trong việc thực hiện các chế độ bảo hiểm xã hội (chi trả các khoản trợ cấp)

....

Luật Minh Khuê chia sẻ một số nguyên tắc cơ bản của an sinh xã hội Việt Nam để bạn đọc tham khảo:

Một xã hội phát triển phải là một xã hội dân chủ, công bằng, văn minh, một xã hội vì hạnh phúc của con người, lấy con người làm mục tiêu, là động lực cho sự phát triển; như vậy, xã hội càng phát triển, cuộc sống của con người càng được cải thiện, càng bớt rủi ro và nếu có gặp rủi ro thì vẫn bảo đảm được cuộc sống và cũng dễ dàng vượt qua rủi ro với sự trợ giúp của Nhà nước, xã hội, cộng đồng và gia đình.

Để bảo đảm định hướng nêu trên, việc phát triển an sinh xã hội phải đảm bảo các nguyên tắc cơ bản sau đây:

Hướng tới bao phủ mọi thành viên trong xã hội

Hướng tới "bao phủ" mọi thành viên xã hội để bảo vệ an toàn cuộc sống cho họ khi có những biến cố rủi ro xảy ra làm suy giảm về kinh tế hoặc làm mất khả năng bảo đảm về kinh tế. Bởi về mặt lý thuyết cũng như thực tiễn, mọi thành viên trong xã hội đều có nguy cơ phải đối phó với rủi ro, chỉ có điều mức độ rủi ro ở từng người có thể khác nhau mà thôi, nếu không tham gia vào một hình thức nào đó của các chính sách an sinh xã hội thì nguy cơ rủi ro càng cao. Tuy nhiên, việc hướng tới bao phủ tất cả thành viên xã hội không phải chỉ bằng một lưới an sinh xã hội nào đó mà phải bằng cả một hệ thống lưới an sinh khác nhau và cũng không phải lúc nào các thành viên xã hội cũng dùng đến những tấm lưới đó. Do vậy, cần thiết lập hệ thống tiêu chí xác định đối tượng tham gia vào các hợp phần của hệ thống an sinh xã hội phù hợp và mỗi loại đối tượng có quyền lợi và trách nhiệm khác nhau.

Đảm bảo tính bền vững về tài chính

Bất cứ một chính sách an sinh xã hội nào hay một họp phần nào đó của hệ thống an sinh xã hội cũng phải bảo đảm tỉnh bền vững về tài chính (nguồn thu/nguồn hình thành và chi). Vì vậy phải thiết lập hệ thống thể chế về tài chính cho phù hợp và thực hiện cơ chế chia sẻ trách nhiệm xã hội, lấy số đông bù số ít như bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp. Tuy nhiên không phải hợp phần nào của hệ thống an sinh xã hội cũng lấy thu bù chi mà cũng có hợp phần chỉ có chi mà không có thu từ người hưởng lợi, nguồn hình thành chủ yếu từ thuế, phí và được gọi chung là từ Ngân sách nhà nước như chính sách trợ giúp đặc biệt và trợ giúp xã hội và các hình thức trợ giúp đột xuất khác.

.....