1. Giới thiệu tác giả

Cuốn "Giáo trình Luật Hiến pháp Việt Nam" xuất bản năm 2020 do PGS.TS. Vũ Trọng Lâm biên soạn.

2. Giới thiệu hình ảnh sách

Giáo trình Luật Hiến pháp Việt Nam - PGS.TS Vũ Trọng Lâm

Giáo trình Luật Hiến pháp Việt Nam

Tác giả: PGS.TS. Vũ Trọng Lâm

Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật

3. Tổng quan nội dung sách

Tại kỳ họp thứ 6, Quốc hội khóa XIII đã thông qua Hiến pháp năm 2013, đây là sự kiện chính trị - pháp lý quan trọng của đất nước. Hiến pháp thể hiện những nội dung mới quan trọng nhằm thể chế hóa Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011). Đây là bản Hiến pháp của thời kỳ đổi mới toàn diện, đáp ứng yêu cầu xây dựng, bảo vệ, phát triển đất nước và hội nhập quốc tế của nước ta trong thời kỳ mới, đồng thời đánh dấu bước phát triển mới của lịch sử lập hiến Việt Nam. So với các bản Hiến pháp năm 1946, 1959, 1980, 1992, Hiến pháp năm 2013 có những điểm mới cơ bản về cơ cấu và hình thức thể hiện; các quy định về chính sách kinh tế - xã hội; về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân; về bộ máy nhà nước; về hiệu lực của Hiến pháp và sửa đổi Hiến pháp, ...

Ở Việt nam hiện nay, Luật hiến pháp là ngành luật chủ đạo trong hệ thống pháp luật; là môn khoa học pháp lý trọng yếu trong hệ thống các khoa học pháp lý chuyên ngành và là môn học nền tảng giúp sinh viên có kiến thức, kỹ năng và điều kiện để học tập các môn học luật khác.

Nhằm đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu nghiên cứu, giảng dạy, học tập môn học Luật Hiến pháp, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia sự thật xuất bản lần thức ba, có chỉnh sửa, bổ sung cuốn sách Giáo trình Luật hiến pháp Việt Nam do PGS.TS. Vũ Trọng Lâm làm chủ biên. 

Cuốn sách được biên soạn với cấu trúc chương mục như sau:

Chương 1. Khái quát về lịch sử lập hiến trên thế giới và ở Việt Nam

I. Lịch sử lập hiến trên thế giới

II. Lịch sử lập hiến Việt Nam

Chương II. Nhận thức chung về Luật hiến pháp Việt Nam

I. Đối tượng điều chỉnh và phương pháp điều chỉnh của ngành Luật Hiến pháp Việt Nam

II. Quy phạm Luật HIến pháp Việt Nam và quan hệ Luật Hiến pháp Việt Nam

III. Nguồn của ngành Luật Hiến pháp Việt Nam

Chương III. Chế độ chính trị nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

I. Khái niệm chế độ chính trị

II. Chính thể của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

III. Bản chất của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nguyên tắc tổ chức, thực hiện quyền lực nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

IV. Hệ thống chính trị Việt Nam hiện nay

Chương IV. Chính sách của Nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam về đại đoàn kết toàn dân tộc, quốc phòng, an ninh và đối ngoại

I. Chính sách của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt nam về đại đoàn kết toàn dân tộc

II. Chính sách của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Mam về quốc phòng an ninh

III. Chính sách của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam về đối ngoại

Chương V. Quyền con người, quyền và nghĩa vụ của công dân

I. Quyền con người

II. Quyền và nghĩa vụ của công dân

Chương VI. Quốc hội nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

I. Vị trí, tính chất, chức năng, nhiệm kỳ, nhiệm vụ và quyền hạn của Quốc hội

II. Cơ cấu tổ chức của Quốc hội

III. Kỳ họp Quốc hội - hình thức hoạt động chủ yếu của Quốc hội

Chương VII. Chủ tịch nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

I. Vị trí, tính chất, nhiệm vụ và quyền hạn của Chủ tịch nước

II. Hội đồng quốc phòng và an ninh

Chương VIII. Chính phủ nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

I. Vị trí, cơ cấu tổ chức, nhiệm kỳ, chế độ làm việc, nguyên tắc tổ chức, hoạt động và hình thức hoạt động của Chính phủ

II. Nhiệm vụ và quyền hạn của Chính phủ

Chương IX. Tòa án nhân dân

I. Vị trí, tổ chức, nhiệm vụ và chức năng của Tòa án nhân dân

II. Các nguyên tắc tổ chức và hoạt động xét xử của Tòa án nhân dân

III. Cơ cấu tổ chức và nhiệm vụ, quyền hạn của Tòa án các cấp

Chương X. Viện kiểm sát nhân dân

I. Vị trí, chức năng và các nguyên tắc tổ chức, hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân

II. Cơ cấu, tổ chức và nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát các cấp

Chương XI. Hội đồng nhân dân

I. Vị trí, tính chất, chức năng, nhiệm kỳ của Hội đồng nhân dân

II. Cơ cấu tổ chức và nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng nhân dân

III. Hình thức hoạt động của Hội đồng nhân dân

Chương XII. Ủy ban nhân dân

I. Vị trí, tính chất, chức năng và nhiệm kỳ của Ủy ban nhân dân

II. Cơ cấu tổ chức và nhiệm vụ, quyền hạn của Ủy ban nhân dân

III. HÌnh thức hoạt động của Ủy ban nhân dân

Chương XIII. Hội đồng bầu cư quốc gia và kiểm toán nhà nước

Chương XIV. Chế độ bầu cử

4. Đánh giá bạn đọc

Cuốn sách trình bày có hệ thống, ngắn gọn, dễ hiểu các kiến thức cơ bản của môn Luật Hiến pháp Việt Nam trên cơ sở các quy định của Hiến pháp năm 2013 và các luật hiện hành về tổ chức bộ máy nhà nước. Trong lần tái bản này, nhiều nội dung của chế định về Chính phủ, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân và Kiểm toán nhà nước đã được chỉnh sửa, bổ sung, cập nhật theo các quy định của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tổ chức Chính phủ và Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2019 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Kiểm toán Nhà nước năm 2019.

Cuốn sách là học liệu quan trọng và cần thiết, vô cùng hữu ích đối với học viên, sinh viên ngành luật.

5. Kết luận

Hy vọng những chia sẻ trên đây của chúng tôi sẽ là một nguồn tư liệu đánh giá chất lượng sách hiệu quả tin cậy của bạn đọc. Nếu thấy chia sẻ của chúng tôi hữu ích, bạn hãy lan tỏa nó đến với nhiều người hơn nhé! Chúc các bạn đọc sách hiệu quả và thu được nhiều thông tin hữu ích từ cuốn sách “Giáo trình Luật Hiến pháp Việt Nam của PGS.TS. Vũ Trọng Lâm".

Luật Minh Khuê chia sẻ dưới đây cấu trúc Hiến pháp năm 2013 và điểm mới của Hiến pháp năm 2013 về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân so với quy định tại Hiến pháp trước đây để bạn đọc tham khảo:

Qua 20 năm thực hiện Hiến pháp năm 1992, đất nước ta đã có nhiều thay đổi trong bối cảnh tình hình quốc tế có những biến đổi to lớn, sâu sắc và phức tạp. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) và các văn kiện khác của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng đã xác định mục tiêu, định hướng phát triển toàn diện, bền vững đất nước trong giai đoạn cách mạng mới nhằm xây dựng nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Ngày 28 tháng 11 năm 2013, sau nhiều ngày thảo luận, thống nhất ý kiến, trong không khí trang nghiêm và thể hiện sự đồng thuận cao, với đa số tuyệt đối 486/498, chiếm 97,59% Quốc hội Khóa XIII, Kỳ họp thứ VI đã thông qua Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013. Đây là sự kiện chính trị - pháp lý  đặc biệt quan trọng đánh dấu một cột mốc mới trong lịch sử lập hiến Việt Nam.

Cấu trúc của Hiến pháp 2013:

Cấu trúc của Hiến pháp 2013 gọn nhẹ hơn Hiến pháp năm 1992. Nếu Hiến pháp năm 1992 có 12 chương, 147 điều thì Hiến pháp 2013 đã rút gọn được  một chương và 27 điều, chỉ còn 11 chương và 120 điều. Lời nói đầu của Hiến pháp 2013 khái quát về lịch sử Việt Nam và mục tiêu của bản Hiến pháp mới được quy định ngắn gọn và khúc chiết hơn so với Hiến pháp năm 1992. Vị trí các chương trong Hiến pháp cũng hợp lý hơn so với Hiến pháp năm 1992. Chương V trong Hiến pháp năm 1992 được gọi là “Quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân” thì nay được chuyển vào vị trí Chương II và được đổi tên thành: “Quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân”. Việc quy định quyền con người, quyền nghĩa vụ cơ bản của công dân ở Chương II thể hiện sự coi trọng quyền con người, quyền công dân của nhà nước ta trong giai đoạn phát triển và đổi mới toàn diện của đất nước. Chương “Tòa án nhân dân và Viện kiểm sát nhân” được chuyển từ vị trí Chương X về Chương VIII trước chương “ Chính quyền địa phương”. Sự điều chỉnh này trong cấu trúc Hiến pháp là hợp lý theo tư duy lô gíc chính quyền Trung ương quy định trước, chính quyền địa phương quy định sau.

Ngoài việc ghép Chương XI vào Chương I, Chương II và Chương III (của Hiến pháp năm 1992) vào Chương III, Hiến pháp mới cũng sáng tạo thêm một chương mới đó là Chương X:“Hội đồng bầu cử quốc gia, Kiểm toán nhà nước”. So với các Hiến pháp trước đây, đây là một chương hoàn toàn mới. Chương mới này là kết quả của việc tiếp nhận tư duy lập hiến mới về các thiết chế hiến định độc lập trong Hiến pháp nước ngoài.

Về chế định quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân

So với Hiến pháp năm 1992, Hiến pháp năm 2013 là một bước tiến vượt bậc trong việc bảo vệ các quyền con người và quyền công dân. Bên cạnh việc quy định về quyền công dân, quyền con người cũng được quy định một cách chi tiết và đầy đủ. Nếu trong Hiến pháp năm 1992 chương Quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân chỉ có 29 điều thì chương Quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân trong Hiến pháp năm 2013 có 36 điều (tăng 7 điều so với Hiến pháp năm 1992).

Hiến pháp năm 2013 đã dành 21 điều quy định về quyền con người, 15 điều quy định về quyền công dân. Tại Điều 14 khoản 1 Hiến pháp năm 2013 đã xác định: “ Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật”. Việc quy định cụ thể về  quyền con người được thể hiện trên các bình diện: quyền bình đẳng trước pháp luật (khoản 1 Điều 16), quyền không bị phân biệt đối xử (Khoản 2 Điều 16), quyền của người Việt Nam định cư ở nước ngoài (Điều 18), quyền sống, tính mạng được pháp luật bảo hộ (Điều 19); quyền bất khả xâm phạm về thân thể (Điều 20, khoản 1), quyền bất khả xâm phạm về đời sống riêng tư, quyền bí mật thư tín, điện thoại, điện tín (Điều 21). Ngoài ra quyền con người trên các lĩnh vực khác được quy định tại các Điều 22, 24, 26, 30, 31, 32, 33,35, 36, 37, 38, 40,  41, 43, 48,49.

Nhìn chung, quyền con người có phạm vi chủ thể rộng hơn quyền công dân. Trong khi quyền công dân Việt Nam chỉ dành cho người có quốc tịch Việt Nam thì quyền con người có phạm vi chủ thể rộng hơn là công dân Việt Nam, công dân nước ngoài, người không có quốc tịch (bao gồm cả người nước ngoài và người Việt Nam). Quyền công dân Việt Nam được pháp luật Việt Nam điều chỉnh, trong khi đó quyền con người vừa được pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam điều chỉnh.