1. Giới thiệu tác giả PGS.TS. Nguyễn Văn Vân

Giáo trình Luật Ngân hàng - Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh do PGS.TS. Nguyễn Văn Vân làm chủ biên.

Tập thể tác giả: PGS.TS. Nguyễn Văn Vân; TS. Phan Thị Thành Dương; TS. Nguyễn Thị Thủy; TS. Nguyễn Thanh Tú; ThS. Phan Phương Nam; ThS. Trương Thị Tuyết Minh.

 

2. Giới thiệu hình ảnh sách

Giáo trình Luật Ngân hàng - Trường Đại học Luật TP.HCM

Giáo trình Luật Ngân hàng - Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh

Tác giả: PGS.TS. Nguyễn Văn Vân chủ biên

Nhà xuất bản Hồng Đức - Hội luật gia Việt Nam

 

3. Tổng quan nội dung sách

Nhằm mục đích nâng cao chất lượng đào tạo và cải tiến phương pháp giảng dạy đối với chương trình đào tạo cử nhân Luật, Trường Đại học Luật TP.Hồ Chí Minh tổ chức chỉnh lý, bổ sung, tái bản Giáo trình Luật ngân hàng.

Nội dung cơ bản của giáo trình bao gồm: Lý luận chung về ngân hàng và luật ngân hàng; Địa vị pháp lý của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam; Địa vị pháp lý của tổ chức tin dụng; Pháp luật về quản lý tiền tệ và ngoại hối; Pháp luật điều chỉnh hoạt động cấp tín dụng của tổ chức tín dụng; Pháp luật về dịch vụ thanh toán qua tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán.

Cuốn giáo trình được biên soạn với cấu trúc chương mục như sau:

Chương 1. Lý luận chung về ngân hàng và luật ngân hàng

1. Khái quát về hoạt động ngân hàng và ngân hàng

2. Khái quát luật ngân hàng

3. Quan hệ pháp luật ngân hàng

4. Nguyên tắc của luật ngân hàng

Chương 2. Địa vị pháp lý của ngân hàng nhà nước Việt Nam

1. Khái niệm, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

2. Cơ cấu tổ chức và lãnh đạo điều hành ngân hàng nhà nước Việt Nam

3. Hoạt động của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Chương 3. Địa vị pháp lý của tổ chức tín dụng

1. Khái niệm, đặc điểm và các loại hình tổ chức tín dụng

2. Quy chế thành lập, cấp, thu hồi giấy phép hoạt động, kiểm soát đặc biệt, tổ chức lại, giải thể, phá sản, thanh lý tổ chức tín dụng

3. Cơ cấu tổ chức, quản lý, điều hành tổ chức tín dụng

4. Hoạt động của tổ chức tín dụng

- Huy động vốn

- Cấp tín dụng

- Dịch vụ thanh toán và ngân quỹ

- Các hoạt động kinh doanh khác

5. Vấn đề đảm bảo an toàn trong hoạt động của tổ chức tín dụng

- Các hạn chế liên quan đến hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng

- Bảo hiểm tiền gửi

Chương 4. Pháp luật về quản lý nhà nước về tiền tệ và ngoại hối

1. Pháp luật về quản lý tiền tệ

2. Pháp luật về quản lý nhà nước đối với ngoại hối và hoạt động quản lý ngoại hối

Chương 5. Pháp luật điều chỉnh hoạt động cấp tín dụng của tổ chức tín dụng

1. Khái niệm và vai trò của tín dụng trong nền kinh tế thị trường

2. Tín dụng ngân hàng và những đặc trưng cơ bản của tín dụng ngân hàng

3. Chế độ pháp lý về các hình thức cấp tín dụng của TCTD

Chương 6. Pháp luật về dịch vụ thanh toán qua tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán

1. Khái niệm dịch vụ thanh toán

2. Quan hệ pháp luật về tài khoản thanh toán

3. Pháp luật về các phương pháp thanh toán qua tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán

 

4. Đánh giá bạn đọc

Cuốn giáo trình được biên soạn giới thiệu tới người học những nội dung cơ bản của pháp luật ngân hàng Việt Nam.

Cuốn sách là học liệu quan trọng, cần thiết đối với sinh viên Luật trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng và là tài liệu tham khảo hữu ích đối với bạn đọc có nhu cầu nghiên cứu, tìm hiểu về vấn đề này nói chung.

Hy vọng những chia sẻ trên đây của chúng tôi sẽ là một nguồn tư liệu đánh giá chất lượng sách hiệu quả tin cậy của bạn đọc. Nếu thấy chia sẻ của chúng tôi hữu ích, bạn hãy lan tỏa nó đến với nhiều người hơn nhé! Chúc các bạn đọc sách hiệu quả và thu được nhiều thông tin hữu ích từ cuốn sách “Giáo trình Luật Ngân hàng - Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh"

Luật Minh Khuê chia sẻ dưới đây đối tượng, phạm vi điều chỉnh của luật ngân hàng và địa vị pháp lý của ngân hàng nhà nước Việt Nam để bạn đọc tham khảo:

Luật ngân hàng là tổng thể các quy phạm pháp luật điều chỉnh và quy định về địa vị pháp lý của ngân hàng trung ương và của các tổ chức tín dụng; các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình quản lý nhà nước và các quan hệ giao dịch có liên quan đến hoạt động lưu thông tiền tệ, tín dụng, ngân hàng, các hoạt động ngân hàng và các dịch vụ ngân hàng của các tổ chức tín dụng và những chủ thể khác trong lĩnh vực ngân hàng và thị trường tiền tệ.

Đối tượng, phạm vi điều chỉnh của luật ngân hàng:

Căn cứ vào khái niệm, đối tượng điều chỉnh của luật ngân hàng có thể được hình dung khái quát là các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình quản lý nhà nước cũng như các quan hệ xã hội nảy sinh từ hoạt động lưu thông tiền tệ, tín dụng, ngân hàng của các tổ chức tín dụng và các chủ thể khác tham gia vào lĩnh vực ngân hàng. Như vậy, đối tượng điều chỉnh của luật ngân hàng bao gồm hai nhóm:

- Các quan hệ quản lý nhà nước về tiền tệ, tín dụng, ngân hàng.

- Các quan hệ về tổ chức và hoạt động kinh doanh ngân hàng của các tổ chức tín dụng và những chủ thể khác có tham gia vào lĩnh vực này.

Căn cứ vào nội dung điều chỉnh các quan hệ pháp luật ngân hàng, đối tượng điều chỉnh của luật ngân hàng có thể được phân biệt thành những nhóm quan hệ xã hội như sau:

- Nhóm các quan hệ tổ chức và hoạt động của Ngân hàng nhà nước Việt Nam

- Nhóm các quan hệ tổ chức và hoạt động của các tổ chức tín dụng

- Nhóm các quan hệ kinh doanh ngân hàng của các tổ chức khác, tuy không phải là tổ chức tín dụng nhưng được phép thực hiện một số hoạt động thuộc lĩnh vực ngân hàng.

Về phương pháp điều chỉnh, luật ngân hàng sử dụng hai phương thức chủ yếu để tác động vào các quan hệ xã hội thuộc đối tượng điều chỉnh của mình là: phương pháp mệnh lệnh phục tùng và phương pháp bình đẳng thỏa thuận. Trong đó, phương pháp mệnh lệnh phục tùng chủ yếu được áp dụng trong các quan hệ xã hội có sự tham gia của ngân hàng nhà nước Việt Nam với vai trò là cơ quan quản lý nhà nước trong lĩnh vực tiền tệ và hoạt động ngân hàng. Lưu ý là, trong một số trường hợp, nếu ngân hàng nhà nước Việt Nam tham gia vào những mối quan hệ mang tính chất nghiệp vụ, không thể hiện chức năng quản lý nhà nước, phương pháp mệnh lệnh phục tùng sẽ không được áp dụng. Các quan hệ diễn ra liên quan đến giao dịch tiền tệ tín dụng, ngân hàng được thiết lập trên cơ sở bình đẳng giữa các chủ thể là ngân hàng, kể cả mối quan hệ giữa ngân hàng trung ương với vai trò là trung tâm thanh toán, luân chuyển tiền tệ, làm dịch vụ tiền tệ cho Chính phủ. Phương pháp điều chỉnh của pháp luật ngân hàng đối với nhóm quan hệ này chủ yếu là phương pháp bình đẳng, thỏa thuận.

Nguồn của Luật Ngân hàng:

+ Hiến pháp

+ Các đạo luật (Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Luật Các Tổ chức tín dụng)

+ Bộ luật Dân sự

+ Luật Doanh nghiệp, Luật Hợp tác xã, Luật Đầu tư

+ Luật Tổ chức chính phủ

+ Các Nghị định, thông tư của các bộ, cơ quan ngang bộ liên quan đến lĩnh vực ngân hàng.

Quan hệ pháp luật ngân hàng:

Quan hệ pháp luật về ngân hàng là những quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình quản lý nhà nước về ngân hàng và những quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực hoạt động ngân hàng được các quy phạm pháp luật ngân hàng điều chỉnh.

Chủ thể trong quan hệ pháp luật ngân hàng:

- Ngân hàng nhà nước Việt Nam và các Tổ chức tín dụng

- Chủ thể là Pháp nhân

- Chủ thể là cá nhân

Khách thể trong quan hệ pháp luật ngân hàng

- Tiền, hàng, các giấy tờ có giá, vàng và những dịch vụ tiện ích của ngân hàng

Nội dung của quan hệ pháp luật ngân hàng:

Bao gồm các quyền và nghĩa vụ của các chủ thể tham gia vào quan hệPLNH cụ thể.

Địa vị pháp lý của Ngân hàng nhà nước Việt Nam:

Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam xác định rõ địa vị pháp lý của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam là cơ quan của Chính phủ và là Ngân hàng Trung ương của nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam. Ngân hàng Nhà nước thực hiện chức năng quản lý nhà nước về tiền tệ và hoạt động ngân hàng; là ngân hàng phát hành tiền, ngân hàng của các tổ chức tín dụng và ngân hàng làm dịch vụ tiền tệ cho Chính phủ. Mục tiêu hoạt động của Ngân hàng Nhà nước nhằm ổn định giá trị đồng tiền, góp phần đảm bảo an toàn hoạt động ngân hàng và hệ thống các tổ chức tín dụng, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Ngân hàng Nhà nước là một pháp nhân, có vốn pháp định thuộc sở hữu nhà nước. Trên cơ sở địa vị pháp lý của Ngân hàng Nhà nước, Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã quy định rõ những nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể của Ngân hàng Nhà nước.
Luật các Tổ chức tín dụng là khuôn khổ pháp lý cơ bản cho việc thành lập, tổ chức, hoạt động của các tổ chức tín dụng và hoạt động ngân hàng của các tổ chức khác tại nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam. Luật các Tổ chức tín dụng quy định Ngân hàng Nhà nước cấp giấy phép thành lập và hoạt động cho các tổ chức tín dụng và xác định các tổ chức tín dụng là doanh nghiệp được thành lập theo quy định của Luật các Tổ chức tín dụng và các quy định khác của pháp luật để hoạt động kinh doanh tiền tệ, làm dịch vụ ngân hàng với nội dung nhận tiền gửi và sử dụng tiền gửi để cấp tín dụng, cung ứng các dịch vụ thanh toán. Các loại hình tổ chức tín dụng là các tổ chức tín dụng Việt Nam gồm: tổ chức tín dụng nhà nước, tổ chức tín dụng cổ phần của Nhà nước và nhân dân, tổ chức tín dụng hợp tác; tổ chức tín dụng liên doanh, tổ chức tín dụng phi ngân hàng 100% vốn nước ngoài hoạt động tại Việt Nam, chi nhánh của ngân hàng nước ngoài. Các loại hình tổ chức tín dụng chính là những thành phần kinh tế tham gia trong nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần và thực hiện các chức năng cơ bản của ngân hàng thương mại.
Hình thức cấp tin dụng của ngân hàng thương mại:
Cấp tín dụng là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác.
Cấp tín dụng dưới các hình thức sau đây:
a) Cho vay;
b) Chiết khấu, tái chiết khấu công cụ chuyển nhượng và giấy tờ có giá khác;
c) Bảo lãnh ngân hàng;
d) Phát hành thẻ tín dụng;
đ) Bao thanh toán trong nước; bao thanh toán quốc tế đối với các ngân hàng được phép thực hiện thanh toán quốc tế;
e) Các hình thức cấp tín dụng khác sau khi được Ngân hàng Nhà nước chấp thuận.