1. Sự việc bé gái 14 tuổi bị nam thanh niên dụ dỗ bỏ nhà đi

Một số thông tin gần đây đưa tin, khoảng 22 giờ ngày 09/08/2022 công an tỉnh Quảng Ngãi nhận tin báo khản cấp về việc một bé gái người Nam Định bị dụ dỗ nên bỏ trốn gia đình vào phía nam, sau đó thì khoảng 23 giờ 30 cùng ngày lực lượng chốn chặn tại Trạm cảnh sát giao thông huyện Đức Phổ phát hiện một bé gái đi cùng thanh niên trẻ trên chuyến xe vào Nam có biểu hiện nghi vấn và bắt được. Sau một thời gian thì bước đầu xác nhận cháu T bị một nam thanh niên quê Đồng Tháp dụ dỗ bỏ nhà vào các tỉnh phía Nam. Hành vi của thanh niên này có dấu hiệu lôi kéo trẻ em trốn khỏi gia đình rồi lừa bán ra nước ngoài. Tại cơ quan công an, nam thanh niên này có dấu hiệu lôi kéo trẻ em trốn khỏi gia đình rồi lừa bán ra nước ngoài. Tại cơ quan công an, nam thanh niên đi cùng được xác định là N.H.N 18 tuổi quê Đồng Tháp. Bước đầu quen bé T qua mạng xã hội. Ngày 7/8/2022 N. ra Nam Định gặp mặt rồi đưa bé T. trốn gia đình vào phía Nam làm việc. Thông tin ban đầu cho thấy là bé gái 14 tuổi. Cơ quan công an đang tiếp tục điều tra làm rõ...

Hành vi dụ dỗ bé gái 14 tuổi bỏ nhà ra đi phạm tội gì?Rủi ro pháp lý khi dụ dỗ bẽ gái 14 tuổi bỏ nhà ra đi

(Rủi ro pháp lý khi dụ dỗ bẽ gái 14 tuổi bỏ nhà ra đi - Hình minh họa)

 

2. Dụ dỗ trẻ em bỏ nhà đi - một dấu hiệu ban đầu của hành vi mua bán người?

2.1 Đặc điểm chung về bị hại trong các vụ án mua bán người dưới 16 tuổi

Bị hại trong vụ án mua bán người, họ thường là những người bị dụ dỗ, lôi kéo và họ dễ tin người khác. Bị hại có thể là một cá nhân bình thường, dưới 16 tuổi. Bị hại trong những vụ án mua bán người cũng có thể là nam hoặc nữ. Nhưng chủ yếu là nữ giới. Họ nhẹ dạ, cả tin, dễ bị lôi kéo, dụ dỗ, họ bị bán sang các nước khác để làm nô lệ tình dục, hoặc làm trong các sòng bài, hoặc làm gái mại dâm...

Đa phần bị hại là những người vì còn quá nhỏ nên thường có nhận thức còn ít, hiểu biết bị hạn chế, hoàn cảnh khó khăn, có thể xuất thân ở những vùng sâu vùng xa, vùng kinh tế xã hội khó khăn hoặc xuất thân từ gia đình không hạnh phúc, cha mẹ ít quan tâm đến con cái.

Do còn quá nhỏ, thể chất chưa phát triển toàn diện nên khả năng phòng vệ không cao, chưa quyết liệt dễ bị khống chế, họ có thể bị tra tấn, bị hành hung, bị mang thai ngoài ý muốn, họ phải làm việc trong môi trường nặng nhọc, họ thường bị giữ giấy tờ... 

 

2.2 Yếu tố cấu thành tội mua bán người dưới 16 tuổi

Mua bán người được hiểu là hành vi đe dọa dùng vũ lực hoặc bằng thủ đoạn khác thực hiện một trong các hành vi cụ thể gồm chuyển giao hoặc tiếp nhận người để giao, nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác chuyển giao hoặc tiếp nhận người để giao, nhận tiền, tìa sản hoặc lợi ích vật chất khác, chuyển giao hoặc tiếp nhận người để bóc lột tình dục, cưỡng bức lao động, lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân hoặc vì mục đích vô nhân đạo khác....

+ Cơ sở pháp lý: Điều 151 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi 2017

+ Mặt khách quan: mua trẻ của người khác nhằm để bán thu lợi và bán đứa trẻ này sau khu mua hoặc khi bắt trộm để nhằm mục đích thu lợi, được thực hiện dưới nhiều hình thức khác nhau. Tuy nhiên dưới bất kỳ hình thức nào thì người có một trong các hành vi nói trên vẫn bị truy cứu trách nhiệm hình sự về hành vi thực hiện đó.

+ Mặt khách thể: Hành vi phạm tội nêu trên xâm phạm đến quyền được chăm sóc, nuôi và sống chung với cha me, quyền được bảo vệ của người dưới 16 tuổi

+ Mặt chủ quan: Người phạm tội thực hiện tội phạm này với lỗi cố ý. Động cơ thực hiện hành vi mua bán, đánh tráo, chiếm đoạt nêu trên xâm phạm đến quan hệ về quyền được chăm sóc nuôi và sống chung với cha mẹ, quyền được bảo vệ của người dưới 16 tuổi

+ Mặt chủ thể: Bất kỳ người nào có năng lực trách nhiệm hình sự.

 

3. Bị hại là người dưới 16 tuổi và tội giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người từ đủ 13 đến dưới 16 tuổi?

+ Cơ sở pháp lý: Điều 145 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi 2017

+ Mặt khách quan: Hành vi giao cấu theo sự thỏa thuận đồng ý giữa người đã thành niên từ đủ 18 tuổi trở lên với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi. Sự thỏa thuận đó được hiểu là cả hai bên đều có ý chí mong muốn được giao cấu với nhau nhưng không vì bất kỳ mục đích có tính chất nào khác tính là cho giao cấu nhưng không có sự thỏa thuận như cho giao cấu rồi nhận tiền bạc...

+ Về khách thể : Hành vi phạm tội đã xâm phạm đến quyền được bảo vệ về nhân phẩm, dnah dự của người từ đủ 13 đến dưới 16 tuổi xâm phạm đến sức khỏe và sự phát triển bình thường của người từ đủ 13 đến dưới 16 tuổi.

+ Đối tượng tác động của tội này được xác định là trẻ em có độ tuổi từ đủ 13 đến dưới 16 tuổi được xác định là không phụ thuộc vào giới tính của họ là nam, nữ. Đây là đối tượng chưa phát triển về mặt thể chất, tâm, sinh, lý nên cần được quan tâm, chăm sóc, giáo dục và bảo vệ. Do vậy, giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác ở lứa tuổi này sẽ gây nguy hiểm cho sự phát triển bình thường của các em cho nên khách thể này luôn được pháp luật bảo vệ đồng thời có chế tài nghiêm khắc đối với hành vi phạm tội.

+ Mặt chủ quan: Người phạm tội thực hiện tội phạm này với lỗi cố ý

+ Chủ thể: của tội này là bất kỳ người nào đã thành niên từ đủ 18 tuổi trở lên và có năng lực trách nhiệm hình sự

 

4. Biên bản thỏa thuận bồi thường thiệt hại 

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM 

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

 

BIÊN BẢN THỎA THUẬN 

(Về việc bồi thường thiệt hại....)

Hôm nay, ngày... tháng.... năm..... tại.....

Chúng tôi gồm:

1. Bên bồi thường (bên A): Ông... sinh năm:....

Số chứng minh nhân dân/ Căn cước công dân:... ngày cấp ......... nơi cấp ....... 

Hộ khẩu thường trú:.........

Chỗ ở hiện tại:.........

2. Bên nhận bồi thường (bên B): Ông/bà :............ sinh năm:.... 

Số chứng minh nhân dân/căn cước công dân :............. ngày cấp ....... nơi cấp :....... 

Hộ khẩu thường trú:......

Chỗ ở hiện tại:.........

3. Người làm chứng 1: Ông/ Bà:.......... sinh năm:........

Hộ khẩu thường trú:......

Chỗ ở hiện tại:...............

4. Người làm chứng 2: Ông/ bà:............... sinh ngày:............

Hộ khấu thường trú.........

Chỗ ở hiện tại:.......

Vào ngày......(tóm tắt nội dung vụ việc).......

Sau khi vụ việc xảy ra thì bên A đã thăm hỏi, bồi thường, khắc phục hậu quả:....... chúng tôi (bên A, bên B) thống nhất thỏa thuận một số nội dung bồi thường, cụ thể bên A đồng ý bồi thường cho bên B số tiền là:...... theo yêu cầu của bên B.......

Bên A

(Ký, ghi rõ họ tên)

Bên B

(Ký, ghi rõ họ tên)

Người làm chứng 1

(Ký, ghi rõ họ tên)

Người làm chứng 2

(Ký, ghi rõ họ tên)

Trên đây là tư vấn của chúng tôi. Nếu còn vướng mắc chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác nhau vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại, gọi ngay tới số: 1900.6162 để được giải đáp.