1. Khái niệm

Hiến binh là lực lượng đặc nhiệm trong quân đội của một số nước. Chức năng và các nhiệm vụ cụ thể của hiến binh tùy thuộc vào tổ chức quân đội của từng nước.

Lực lượng Hiến binh, tiếng lóng gọi nôm na là sen đầm hoặc săng đá (nói lái từ tiếng Pháp: Gendarmerie) là một tổ chức an ninh quân sự hoặc bán quân sự riêng biệt với lực lượng cảnh sát dân sự, được giao nhiệm vụ thi hành pháp luật trong phạm vi lãnh thổ của một quốc gia. Hiến binh là lực lượng tinh nhuệ của bộ Quốc Phòng, được rèn luyện cả về thể chất, trí tuệ và nghiệp vụ. Hiến binh quốc gia thực hiện các nhiệm của bộ Nội Vụ. Đa số các lực lượng Hiến binh được tổ chức và quản lý chặt chẽ dưới mô hình quân đội, đồng thời được vũ trang đồng bộ nhằm tối ưu hóa việc thi hành pháp luật và bảo đảm an ninh công cộng.
Khái niệm Hiến binh có bắt nguồn từ nước Pháp, từ gendarme trong tiếng Pháp có nguồn gốc từ thành ngữ 'gens d'armes' tức người dân quân.

2. Phân loại hiến binh theo các nước

Ở Pháp, hiến binh là nằm trong Bộ Quốc phòng, nhưng được tổ chức vừa mang tính hành chính, vừa mang tính quân sự, có nhiệm vụ giữ gìn trật tự an ninh công cộng, truy nã binh lính trốn quân ngũ, dẹp trừ phản loạn, cướp bóc, cứu hộ trên toàn lãnh thổ; đồng thời làm nhiệm vụ tình báo cho quân đội, chính quyền, tiến hành một số hoạt động điều tra các vụ việc hình sự. Về tổ chức của hiến binh, ở trung ương có Bộ Tham mưu, Tổng Thanh tra, Cục hiến binh và Quân pháp; ở mỗi tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có một đại đội, 4 hoặc 5 tỉnh có một quân đoàn. Ngoài ra, có một số đơn vị đặc nhiệm khác.

Ở Việt Nam, năm 1909, để bảo vệ chế độ thuộc địa, thực dân Pháp thành lập một đại đội hiến binh gồm 54 người (Bắc Kỳ 30 người, Trung Kỳ 10 người, Nam Kỳ 24 người). Năm 1913, thành lập đại đội SetivSt SE do một sĩ quan thanh tra gồm 2 đơn vị: một đóng Ở Bắc Kỳ và Trung Kỳ có 140 người, một đóng ở Nam Kỳ và Cămpuchia có 100 người. Lực lượng hiến bình Đông Dương có nhiệm vụ: kiểm soát quân đội, kiếm soát dân sự về hành chính và tư pháp, coi giữ nhà tù tỉnh, có khi kiêm nhiệm trông coi việc chiếu sáng, vê sinh đô thị, kiểm soát các quán cà phê, song hiến binh Đông Dương kiêm hiến binh chỉ huy, bạc, gái điếm.

Trong thời gian xâm lược Việt Nam (1940 - 1945), phát xít Nhật lập lực lượng hiến binh là người Nhật để duy trì trật tự ở những nơi chúng chiếm đóng, gây dựng tổ chức thân Nhật để hất cẳng Pháp, tranh thủ giới chức sắc Cao Đài (ở miền Nam), gây quan hệ với giới báo chí để tuyên truyền cho thuyết “Đại Đông Á”, nhất là từ sau khi chúng tiến hành đảo chính Pháp, độc chiếm Đông Dương (09.3.1945).

Trong thời gian chiến tranh ở Việt Nam (1954 - 1975), Mĩ tổ chức Lữ đoàn 18 MP (18 th Military Police), còn gọi là quân cảnh, gồm 3 tiểu đoàn, làm nhiệm vụ giữ gìn an ninh, bảo vệ các cơ quan đầu não, hộ tống các đoàn xe ngoại giao của Mỹ, khi cấp thiết thì chiến đấu như một đơn vị bộ binh.

3. Cách gọi và quản lý

Ngoài tên gọi chung "gendarmerie", lực lượng này còn có nhiều tên gọi khác theo vùng miền và quốc gia, ví dụ Carabinieri ở Ý, Guarda Nacional Republicana ở Bồ Đào Nha hay Guardia Civil ở Tây Ban Nha. Đa số các tên gọi đều làm gợi nhớ đến bản chất bảo an công cộng hay bản chất vũ trang của các tổ chức Hiến binh.
Tùy theo cơ cấu nhà nước của mỗi quốc gia, Hiến binh thường nằm dưới sự quản lý của Bộ Quốc Phòng (như ở Ba Lan, Algieria), Bộ Nội Vụ/An Ninh/Công An (Rumani, Argentina, Việt Nam), cả hai (Pháp, Ý, Tây Ban Nha) hoặc một ủy ban dân sự riêng biệt trực thuộc Chính phủ (Vệ binh quốc gia Nga - Rosgvardiya).

4. Vai trò phục vụ

Khi so sánh với cảnh sát dân sự, hiến binh nhiều lúc là lực lượng có kỷ luật hơn, điều đó giúp cho họ có khả năng đối phó với các nhóm vũ trang và mọi loại bạo lực, bạo loạn một cách hiệu quả nhất. Để thích ứng với thực tiễn tác chiến và nhiệm vụ, và cũng vì do phải thường xuyên đối mặt với nhiều loại tội phạm nguy hiểm, hiến binh thường không bị ràng buộc về mặt quyền hạn gắt gao như cảnh sát dân sự. Điều này cho phép người Hiến binh quân có các hành động mạnh tay, mang tính vũ lực nặng như dùng dùi cui, dùng súng và hơi cay lên đối phương với mục đích trị an.

5.Tại Việt Nam

Tại một số giai đoạn trong lịch sử Việt Nam đã tồn tại những đơn vị Hiến binh chính thức. Ví dụ như vào thời Pháp thuộc, để bảo vệ chế độ thuộc địa, thực dân Pháp thành lập một đại đội hiến binh gồm 54 người vào năm 1909, lực lượng ngày một này dần lớn mạnh khắp Bắc, Trung và Nam Kỳ; và kể cả Campuchia. Sen Đầm Đông Dương thời đó có nhiệm vụ kiểm soát quân đội, kiếm soát dân sự về hành chính và tư pháp, coi giữ nhà tù tỉnh, có khi kiêm nhiệm trông coi việc chiếu sáng, vê sinh đô thị, kiểm soát các quán cà phê, các sòng bạc, tụ điểm mại dâm.

Ở nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam ngày nay, các trung đoàn Cảnh sát Cơ động khắp ba miền tổ quốc có thể được coi như một lực lượng tương đồng Hiến binh, với vị trí, chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn giống như các tổ chức hiến binh khác trên thế giới. Với các trang bị vũ trang nặng hơn cảnh sát dân sự, Cảnh sát cơ động thường xuyên phải đảm nhiệm nhiều nhiệm vụ nguy hiểm liên quan đến tội phạm có tổ chức, tội phạm ma túy, các tổ chức khủng bố hay bạo động đô thị và nông thôn. Ngoài ra, Cảnh sát Cơ động Việt Nam cũng có nhiệm vụ tuần tra cộng đồng, canh gác và bảo vệ các cơ quan nhà nước, hội nghị trọng yếu và các sự kiện đông người như mít tinh hay thể thao.

Bên cạnh đó, Dân quân tự vệ Việt Nam, một lực lượng vũ trang quần chúng (chịu sự quản lý của các Ủy ban Nhân dân địa phương) có vai trò chiến đấu hiệp đồng với Công An và Quân Đội để bảo vệ chủ quyền quốc gia, bảo đảm an ninh, trật tự, an toàn xã hội cũng có thể được coi như một lực lượng Hiến binh tại Việt Nam. Người lính Dân quân tự vệ tham gia lực lượng này qua hình thức nghĩa vụ quân sự.