1. Giới thiệu Hiệp định về Các Rào cản Kỹ thuật đối với Thương mại (Hiệp định TBT)

Hiệp định về Các Rào cản Kỹ thuật đối với Thương mại (Hiệp định TBT) được xây dựng trên cơ sở một thỏa thuận riêng rẽ được ký vào năm 1979 sau khi kết thúc vòng đàm phán GATT tại Tokyo.

Các biện pháp kỹ thuật này về nguyên tắc là cần thiết và hợp lý nhằm bảo vệ những lợi ích quan trọng như sức khoẻ con người, môi trường, an ninh... Vì vậy, mỗi nước thành viên WTO đều thiết lập và duy trì một hệ thống các biện pháp kỹ thuật riêng đối với hàng hoá của mình và hàng hoá nhập khẩu. Tuy nhiên, trên thực tế, các biện pháp kỹ thuật có thể là những rào cản tiềm ẩn đối với thương mại quốc tế bởi chúng có thể được nước nhập khẩu sử dụng để bảo hộ cho sản xuất trong nước, gây khó khăn cho việc thâm nhập của hàng hoá nước ngoài vào thị trường nước nhập khẩu. Do đó chúng còn được gọi là “rào cản kỹ thuật đối với thương mại”

Hiệp định về Các Rào cản Kỹ thuật đối với Thương mại (Hiệp định TBT) là một trong số 29 văn bản pháp lý nằm trong Hiệp định WTO, quy định nghĩa vụ của các thành viên nhằm đảm bảo rằng các quy chuẩn kỹ thuật, tiêu chuẩn, thủ tục đánh giá sự phù hợp không tạo ra những cản trở không cần thiết đối với thương mại.

Các nhóm nghĩa vụ trong Hiệp định TBT bao gồm :

- Đối xử với hàng hoá xuất khẩu của một nước không kém ưu đãi hơn so với cơ chế đối xử đối với hàng hoá sản xuất trong nước (đối xử quốc gia) hoặc đối với hàng xuất khẩu của một nước khác (đối xử tối huệ quốc);

- Khuyến khích các thành viên dựa trên các tiêu chuẩn quốc tế đó hài hoà;

- Minh bạch trong quá trình xây dựng, áp dụng và thực hiện các tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật;

- Các yêu cầu về thủ tục liên quan tới việc thông báo cho WTO các vấn đề có liên quan tới Hiệp định về Các Rào cản Kỹ thuật đối với Thương mại (Hiệp định TBT).

Quy chế thực hành tốt (Phụ lục 3) của Hiệp định về Các Rào cản Kỹ thuật đối với Thương mại (Hiệp định TBT) mở rộng các nguyên tắc này đối với tiêu chuẩn.

Hiệp định về Các Rào cản Kỹ thuật đối với Thương mại (Hiệp định TBT) áp dụng với: Quy chuẩn kỹ thuật; Quy trình đánh giá sự phù hợp; Tiêu chuẩn; Tất cả các sản phẩm gồm công nghiệp và nông nghiệp đều là đối tượng điều chỉnh.

Hiệp định về Các Rào cản Kỹ thuật đối với Thương mại (Hiệp định TBT) không áp dụng với: Mua sắm Chính phủ, các quy định và tiêu chuẩn liên quan đến dịch vụ, các biện pháp vệ sinh dịch tể (SPS).

Các nguyên tắc cơ bản của Hiệp định về Các Rào cản Kỹ thuật đối với Thương mại (Hiệp định TBT): Có 6 nguyên tắc cơ bản, đó là: Tránh sự cản trở không cần thiết cho thương mại; Nguyên tắc không phân biệt đối xử: Gồm đãi ngộ tối huệ quốc MFN (mỗi thành viên sẽ dành cho sản phẩm của một thành viên khác đối xử không kém ưu đãi hơn đối xử mà thành viên đó dành cho sản phẩm của một nước thứ ba), đãi ngộ quốc gia (mỗi thành viên sẽ không dành cho sản phẩm của công dân nước mình đối xử ưu đãi hơn so với sản phẩm của người nước ngoài); Nguyên tắc hài hòa của Hiệp định về Các Rào cản Kỹ thuật đối với Thương mại (Hiệp định TBT); Nguyên tắc về tính tương đương: yêu cầu các thành viên chấp nhận các quy chuẩn KT khác với quy chuẩn KT của chính quốc gia đó, miễn sao đáp ứng được cùng một mục tiêu chính sách; Nguyên tắc thừa nhận lẫn nhau: tiến đến cấp một chứng chỉ - Kiểm tra một lần - Được chấp nhận ở một nơi; Nguyên tắc minh bạch hóa.

2. Rào cản kỹ thuật đối với thương mại là gì?

Trong thương mại quốc tế, các “rào cản kỹ thuật đối với thương mại” (technical barriers to trade) là các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật mà một nước áp dụng đối với hàng hoá nhập khẩu và/hoặc quy trình nhằm đánh giá sự phù hợp của hàng hoá nhập khẩu đối với các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật đó (còn gọi là các biện pháp kỹ thuật – biện pháp TBT).

Các biện pháp kỹ thuật này về nguyên tắc là cần thiết và hợp lý nhằm bảo vệ những lợi ích quan trọng như sức khoẻ con người, môi trường, an ninh...

Vì vậy, mỗi nước thành viên WTO đều thiết lập và duy trì một hệ thống các biện pháp kỹ thuật riêng đối với hàng hoá của mình và hàng hoá nhập khẩu.

Tuy nhiên, trên thực tế, các biện pháp kỹ thuật có thể là những rào cản tiềm ẩn đối với thương mại quốc tế bởi chúng có thể được nước nhập khẩu sử dụng để bảo hộ cho sản xuất trong nước, gây khó khăn cho việc thâm nhập của hàng hoá nước ngoài vào thị trường nước nhập khẩu. Do đó chúng còn được gọi là “rào cản kỹ thuật đối với thương mại”.

3. Các loại rào cản kỹ thuật

Rào cản kỹ thuật gồm có những loại sau:

Hiệp định về các rào cản kỹ thuật đối với thương mại của WTO phân biệt 03 loại biện pháp kỹ thuật sau đây: Quy chuẩn kỹ thuật (technical regulations) là những yêu cầu kỹ thuật bắt buộc áp dụng (các doanh nghiệp bắt buộc phải tuân thủ); Tiêu chuẩn kỹ thuật (technical standards) là các yêu cầu kỹ thuật được chấp thuận bởi một tổ chức đã được công nhận nhưng không có giá trị áp dụng bắt buộc; và Quy trình đánh giá sự phù hợp của một loại hàng hoá với các quy định/tiêu chuẩn kỹ thuật (conformity assessment procedure).

4. Hàng rào kỹ thuật trong thương mại theo pháp luật Việt Nam

Về thương mại hay còn gọi là hoạt động thương mại có thể hiểu theo hai nghĩa:

Về nghĩa rộng: Hoạt động thương mại - Đó là mọi hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, đồng nghĩa với hoạt động kinh doanh. “Kinh doanh là việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi“ (theo quy định của Luật Doanh nghiệp năm 2020). Hoạt động kinh doanh thực hiện trong nhiều lĩnh vực sản xuất, lưu thông hàng hóa và dịch vụ.

=> Theo nghĩa này, hoạt động thương mại bao gồm không chỉ các hoạt động mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ mà còn là các hoạt động đầu tư cho sản xuất dưới các hình thức đầu tư trực tiếp và đầu tư gián tiếp, được điều chỉnh bằng Luật Đầu tư, Luật Doanh nghiệp 2005 Luật Kinh doanh bất động sản , Luật Chứng khoán và các Luật chuyên ngành khác.

Về nghĩa hẹp: Cụ thể theo Luật thương mại năm 2005 , “Hoạt động thương mại là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác“.

Khi hoạt động thương mại được định nghĩa theo Luật thương mại năm 2005, hoạt động này chỉ tập trung vào các hoạt động kinh doanh trong 2 khâu lưu thông và dịch vụ, không bao hàm khâu đầu tư cho sản xuất.

Hàng rào kỹ thuật trong thương mại theo pháp luật Việt Nam, cụ thể theo Quyết định số 46/2017/QĐ-TTg ngày 24 tháng 11 năm 2017 của Thủ tướng Chính phủ : “TBT (Technical Barriers to Trade) là hàng rào kỹ thuật trong thương mại được thể hiện dưới hình thức các biện pháp có tính kỹ thuật bắt buộc áp dụng để bảo đảm an toàn, vệ sinh, sức khỏe con người, bảo vệ động vật, thực vật, môi trường; bảo vệ lợi ích và an ninh quốc gia, quyền lợi của người tiêu dùng và các yêu cầu thiết yếu khác được quy định tại các văn bản quy phạm pháp luật, quy chuẩn kỹ thuật, tiêu chuẩn được viện dẫn bắt buộc áp dụng trong văn bản quy phạm pháp luật hoặc quy trình đánh giá sự phù hợp do các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền ban hành”.

Trong thương mại quốc tế, hàng rào kỹ thuật trong thương mại hay còn gọi là các "rào cản kỹ thuật đối với thương mại" (technical barriers to trade – TBT) là các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật mà một nước áp dụng đối với hàng hoá nhập khẩu và/hoặc quy trình nhằm đánh giá sự phù hợp của hàng hoá nhập khẩu đối với các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật đó (còn gọi là các biện pháp kỹ thuật – biện pháp TBT).

Các biện pháp kỹ thuật này về nguyên tắc là cần thiết và hợp lý nhằm bảo vệ những lợi ích quan trọng như sức khoẻ con người, môi trường, an ninh... Vì vậy, mỗi nước thành viên WTO đều thiết lập và duy trì một hệ thống các biện pháp kỹ thuật riêng đối với hàng hoá của mình và hàng hoá nhập khẩu.

5. Ví dụ về hàng rào kỹ thuật trong thương mại quốc tế

Dưới đây là một vài ví dụ cụ thể về “hàng rào kỹ thuật trong thương mại” giúp doanh nghiệp nói riêng hiểu rõ hơn.

Ví dụ 1: Hàng rào kỹ thuật trong thương mại từ quy định nhãn mác mới của liên bang nga tháng 4 năm 2019 liên bang nga công bố áp dụng quy định dán nhãn điện tử số 792P cho một số loại hàng hóa nhập khẩu trong đó có sản phẩm dệt may, da giầy được áp dụng theo lộ trình năm 2019 và 2020. Đây là quy định dán nhãn bắt buộc đối với hàng hóa lưu thông trong lãnh thổ Nga sẽ áp dụng cho mặt hàng giày dép và dệt may. Với quy định mới này các doanh nghiệp xuất khẩu quần áo giày dép từ Việt Nam sang Nga sẽ phải đầu tư thay đổi nhãn mác, mỗi sản phẩm phải có 1 mã đăng ký riêng và phải được đăng ký với cơ quan hải quan Nga.

Ví dụ 2: Hương nhang Việt Nam xuất khẩu sang Ấn Độ bị chặn lại bởi quy định mới về cấp phép nhập khẩu, theo đó để xuất khẩu sang Ấn Độ các doanh nghiệp nhập khẩu hương nhang và các chế phẩm khác phải xin giấy phép nhập khẩu từ bộ công thương Ấn Độ.

Tuy nhiên, Bộ công thương Ấn Độ vẫn chưa đưa ra hướng dẫn về thủ tục cấp phép nhập khẩu cũng như thời gian cấp phép. Theo phản ảnh của các đối tác nhập khẩu hương nhang tại Ấn Độ chưa có doanh nghiệp nào xin được giấy phép nhập khẩu. Theo các chuyên gia Việt Nam, sản phẩm hương nhang chưa được cấp phép xuất khẩu vào thị trường Ấn Độ do giá thành hương nhang Việt Nam quá rẻ so với giá thành sản xuất hương nhang của Ấn Độ, mức giá này làm ảnh hưởng đến ngành sản xuất hương nhang khiến nhiều doanh nghiệp sản xuất hương nhang của Ấn Độ đóng cửa. Vào tháng 8 năm 2019, có khoảng 300 container hương nhang Việt Nam bị chặn lại vì vướng quy định cấp phép nhập khẩu, hơn 100 doanh nghiệp mắc kẹt, 2,5 vạn lao động mất việc làm.

Trên đây là nội dung Luật Minh Khuê sưu tầm và biên soạn. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900.6162 để được giải đáp.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng!

Luật Minh Khuê (Sưu tầm và biên tập).