1. Mở đầu vấn đề

Cộng đồng thương mại quốc tế rõ ràng đã ghi nhận ảnh hưởng tiêu cực ngày càng tăng của các rào cản kỹ thuật đối với thương mại quốc tế. Nhiều công trình lý luận và hoạt động thực tiễn đã hướng vào việc phát triển những phương thức và giải pháp ngăn chặn và loại bỏ các rào cản này.

2. Lý do ngăn chặn và loại bỏ các rào cản kỹ thuật đối với thương mại quốc tế

Chính bản chất của các rào cản kỹ thuật đối với thương mại cũng xác định các biện pháp loại bỏ chúng. Sẽ có thể tránh được các rào cản do những đòi hỏi khác nhau về sản phẩm tại các nước khác nhau nếu thay vì các đòi hỏi khác nhau của các quốc gia, tất cả các nước cùng sử dụng các đòi hỏi giống nhau đã được nhất trí trên phạm vi quốc tế. Việc đánh giá sự phù hợp làm lặp đi lặp lại cũng có thể được bớt giảm nếu các nước công nhận các kết quả đánh giá của nhau.

3. Thực tiễn thực hiện ngăn chặn và loại bỏ rào cản kỹ thuật đối với thương mại quốc tế

Thật không may là những giải pháp này về thực tiễn hơi khó thực hiện. Các điều kiện khí hậu, những thói quen dinh dưỡng, các điều kiện môi trường, các truyền thống công nghệ và giai đoạn phát triển kinh tế ở mỗi nước đều khác nhau tới mức là những đòi hỏi chung hoàn toàn đơn giản về sản phẩm là không có tính khả thi trong nhiều trường hợp.

Tuy nhiên điều này không có nghĩa là tình hình hoàn toàn không có hy vọng. Nếu những đòi hỏi được quốc tế thỏa thuận là không có tính khả thi trong một số trường hợp, thì trong nhiều trường hợp hơn chúng lại có thể hoàn toàn khả thi. Và ngay tại nơi mà các đòi hỏi đó không có tính khả thi, thì các biện pháp như xây dựng một thuật ngữ chung hoặc nêu những đòi hỏi cụ thể về công dụng, công suất hơn là nêu đặc điểm bề ngoài. Điều này sẽ làm giảm đáng kể ảnh hưởng gây ra do những đòi hỏi khác nhau về sản phẩm tới thương mại.

4. Những khó khăn khi thực hiện ngăn chặn và loại bỏ rào cản kỹ thuật đối với thương mại quốc tế

Khó khăn trong việc áp dụng sự công nhận lẫn nhau đối với các kết quả đánh giá sự phù hợp một phần là do các thủ tục đánh giá lại khác nhau và thậm chí xung đột nhau và một phần vì do thiếu tin tưởng nhau. May mắn là việc hài hòa quốc tế các thủ tục đảnh giá sự phù hợp thường dễ hơn nhiều so với việc hài hòa các đòi hỏi vê sản phẩm. Đã có nhiều tiến bộ đấng kể đạt được về phương diện này trong 20 năm qua .

Vấn đề thiếu tin tưởng đã được khắc phục bằng việc phát triển niềm tin. Điều đó là muốn nói tới những đòi hỏi chung về năng lực và độ tin cậy đối với các cơ quan đánh giá sự phù hợp cũng như tói các thủ tục chung để đánh giá những yếu tố này. Những đòi hỏi chung đối với các cơ quan tiến hành đánh giá tín nhiệm cũng đã được phát triển và nhất trí với kết quả rằng các điều kiện xây dựng sự tin tưởng lẫn nhau đã được nâng cao đáng kể. cả hai bên khi đó sẽ nhận thức được rằng năng lực và độ tin cậy của các cơ quan đánh giá sự phù hợp của bên kia được đánh giá và xác nhận phù hợp với những đòi hỏi và thủ tục giống như tại nước mình.

Những khó khăn trong hoạt động hài hòa hóa quốc tế và công nhận lẫn nhau đã dẫn tời kết luận rằng việc ngăn chặn rào cản kỹ thuật đối với thương mại dễ hơn việc loại bỏ. Khi các quy định kỹ thuật quốc gia, các tiêu chuẩn và các thủ tục đánh giá sự phù hợp được xây dựng tương đối hoàn chỉnh, việc sửa đổi chúng luôn là một thủ tục rườm rà, và có thể cần phải đương đầu với những trở ngại về kỹ thuật, kinh tế và chính trị. Khi có thể, nhũng yêu cầu của thương mại quốc tế sẽ được tính tới trước khi các quy tắc quốc gia được chấp nhận.

Điều này đã dẫn tới sự phát triển các thủ tục thông báo cụ thể, nhờ đó mà các nước thông báo trước dự kiến về các quy định kỹ thuật, tiêu chuẩn và các thủ tục đánh giá sự phù hợp. Trong một thời gian đã nhất trí, các nước khác khi ấy có cơ hội bình luận về các biện pháp dự định này và đề nghị các cuộc tham vấn nếu các biện pháp này đe dọa dẫn tới các rào cản thương mại.

5. Rào cản kỹ thuật

Trong thương mại quốc tế, khái niệm “rào cản kỹ thuật đối với thương mại” (technical barriers to trade) thực chất đó là các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật mà một nước áp dụng đối với hàng hoá nhập khẩu và/hoặc quy trình đánh giá sự phù hợp của hàng hoá nhập khẩu đối với các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật đó (sau đây gọi chung là các biện pháp kỹ thuật - biện pháp TBT).

Rào cản kỹ thuật đối với thương mại có thể do những đòi hỏi chung về các sản phẩm ở một nước (hay khu vực kinh tế) tạo nên. Những đòi hỏi này có thể liên quan tới đặc tính sản phẩm; quy trình và các phương pháp sản xuất; bao gói, nhãn mác và thông tin cần phải cung cấp; và việc đánh giá sự phù hợp. Chẳng hạn, các đặc tính sản phẩm có thể liên quan tới kiểu dáng, kích cỡ, vệ sinh và an toàn, công dụng, các thành phần hóa chất, giá trị dinh dưỡng...

Những yêu cầu về quy trình và phương pháp sản xuất chủ yếu được sử dụng khi các đặc tính sản phẩm không thể đo lường hay thử nghiệm một cách khả thi. Các ví dụ điển hình là những yêu cầu về các phương pháp hàn đối với các bình áp suất, hay những yêu cầu vệ sinh đối với các lò mổ và các cơ sở chế biến sữa. Cũng thuộc loại này là những đòi hỏi nhà sản xuất phải vận hành một hệ thống chất lượng.Những đòi hỏi vế đóng gói, nhãn mác và thông tin cần phải cung cấp tăng mạnh, đặc biệt đối với lương thực và các mặt hàng tiêu dùng khác. Thay vì tuyên truyền một số đặc tính nào đó của sản phẩm, thì nay sự lựa chọn cuối cùng thuộc về người tiêu dùng đã có đủ thông tin.

Các biện pháp kỹ thuật này về nguyên tắc là cần thiết và hợp lý nhằm bảo vệ những lợi ích quan trọng như sức khoẻ con người, môi trường, an ninh... Vì vậy, mỗi nước thành viên WTO đều thiết lập và duy trì một hệ thống các biện pháp kỹ thuật riêng đối với hàng hoá của mình và hàng hoá nhập khẩu.

Tuy nhiên, ở trên thực tế, biện pháp kỹ thuật có thể là những rào cản tiềm ẩn đối với thương mại quốc tế bởi chúng có thể được sử dụng vì mục tiêu bảo hộ cho sản xuất trong nước, gây khó khăn cho việc thâm nhập của hàng hoá nước ngoài vào thị trường nước nhập khẩu. Do đó chúng còn được gọi là “rào cản kỹ thuật đối với thương mại”.

Rào cản kỹ thuật đối với thương mại quốc tế có tầm quan trọng và nó gia tăng trong 30 năm qua cả ở khía cạnh tương đối và khía cạnh tuyệt đối. Nói một cách tương đối, thì rào cản kỹ thuật ngày càng trở nên quan trọng hơn, vì các rào cản truyền thống như thuế quan và những hạn chế về số lượng phần lớn đã được loại bỏ sau khi Hiệp định Chung về Thuế quan & Thương mại (GATT) và các Hiệp định Thương mại Tự do (FTA) ra đời.

6. Thương mại quốc tế

Cho đến nay chưa có một định nghĩa hay một cách hiểu thống nhất về hoạt động thương mại quốc tế. Trên thế giới chỉ thống nhất ở điểm: Thương mại quốc tế là tổng hợp các hoạt động, giao dịch hàng hóa và dịch vụ trong quan hệ thương mại quốc tế. Điểm chưa thống nhất là ở chỗ tham gia vào các quan hệ thương mại quốc tế thì đối tượng tham gia gồm nhiều chủ thể khác nhau. Có quan hệ thương mại quốc tế phát sinh giữa các quốc gia (kể cả các nước, vũng lãnh thổ) nhưng cũng có quan hệ thương mại quốc tế phát sinh giữa các doanh nghiệp, các công ty thương mại của các nước khác nhau với nhau. Quan hệ thương mại quốc tế cũng có thể có sự tham gia của các tổ chức quốc tế như Tổ chức Thương mại thể giới (WTO) hoặc của cơ quan chuyên môn của Liên Hợp Quốc như Uỷ ban pháp luật thương mại quốc tế của Liên Hợp Quốc (UNCITRAL)…

Thương mại quốc tế có thể hiểu là việc trao đổi hàng hóa và dịch vụ (hàng hóa hữu hình và hàng hóa vô hình) giữa các quốc gia, tuân theo nguyên tắc trao đổi ngang giá nhằm đưa lại lợi ích cho các bên. Đối với phần lớn các nước, nó tương đương với một tỷ lệ lớn trong GDP. Thương mại quốc tế phát triển mạnh cùng với sự phát triển của công nghiệp hoá, giao thông vận tải, toàn cầu hóa, công ty đa quốc gia và xu hướng thuê nhân lực bên ngoài.

So với thương mại trong nước, thương mại quốc tế ra đời muộn hơn. Điều này có nghĩa là thương mại quốc tế chỉ hình thành khi các quốc gia đã ra đời, các quốc gia đã tham gia vào các mối quan hệ thương mại và các quốc gia thấy cần thiết phải có các quy định điều chỉnh các mối quan hệ quốc tế về thương mại nhằm thúc đẩy sự phát triển của thương mại quốc tế. Để điều chỉnh các mối quan hệ về thương mại, các quốc gia phải cùng nhau xây dựng các nguyên tắc, các quy phạm pháp luật quốc tế để quy định quyền và nghĩa vụ cụ thể đối với nhau trong mối quan hệ quốc tế. Sự hình thành thương mại quốc tế là yêu cầu có tính khách quan. Mặc dù thương mại quốc tế đã xuất hiện từ lâu trong lịch sử loài người, tầm quan trọng kinh tế, xã hội và chính trị của nó mới được để ý đến một cách chi tiết trong vài thế kỷ gần đây.

7. Công nhận lẫn nhau (MRA)

Một yếu tố quan trọng của tự do hóa các dịch vụ chuyên nghiệp là khả năng một thể nhân đủ tiêu chuẩn từ một quốc gia này (nước đi) đến hành nghề tại một quốc gia khác (nước đến). Khả năng hành nghề ở các nước khác nhau có thể đạt được bằng một số biện pháp, bao gồm sự công nhận song phương chứng chỉ và kinh nghiệm, sự hài hòa hóa chứng chỉ và thừa nhận chung bằng cấp, chứng chỉ và kinh nghiệm. Về lý luận, những thỏa thuận thừa nhận lẫn nhau là các điều ước quốc tế.

Theo đó, các nước, các cơ quan tiêu chuẩn hoặc các tổ chức nghề nghiệp (các cơ quan có thẩm quyền) thừa nhận sự tương đồng về tiêu chuẩn kỹ thuật của một nước khác (hoặc các thủ tục đánh giá sự phù hợp), các biện pháp kiểm dịch động thực vật hoặc, trong trường hợp của thể nhân, chứng chỉ học thuật hoặc nghề nghiệp của họ như Hiệp định Thừa nhận chung về dịch vụ kỹ thuật, kiến trúc hoặc kế toán của ASEAN. Vì thế, các MRA là những công cụ thúc đẩy tự do hóa thương mại được đàm phán và ký kết – thường là trong việc hỗ trợ những cam kết tiếp cận thị trường – làm giảm thiểu chi phí và thời gian cần thiết để có được sự chứng nhận đối với trình độ chuyên môn. Trong bối cảnh xu hướng hiện nay khi các rào cản đối với mở cửa thị trường đã có sự thay đổi từ các biện pháp biên giới (như thuế quan và hạn ngạch) cho đến các chính sách nội địa (cụ thể là quy định nội địa), sự thừa nhận lẫn nhau ngày càng được xem là một công cụ hiệu quả hỗ trợ cho tự do hóa thương mại khi mà sự hài hòa hoặc tương đồng pháp luật không đạt được.

Như vậy, vai trò của các MRA là đưa ra một biện pháp nhằm giảm chi phí thâm nhập vào trong thị trường dịch vụ nước ngoài bằng cách giúp các nhà cung cấp dịch vụ thoát khỏi gánh nặng của việc sát hạch lại ở thị trường mục tiêu (thông qua việc đáp ứng được các yêu cầu đào tạo bổ sung) cũng như là tạo thuận lợi cho các biện pháp mà trong đó họ có thể đưa ra các bằng chứng xác nhận rằng họ đã hoàn thành các điều kiện và cấp phép về trình độ chuyên môn trong thị trường của nước mục tiêu.

MRA do đó là một cách để cắt giảm chi phí giao dịch và đưa ra một biện pháp gián tiếp cần thiết để vận hành các cam kết mở cửa thị trường, vốn thường xuyên được lập ra trong bối cảnh của đề xuất về một sự hội nhập kinh tế sâu rộng hơn hoặc hướng tới sự tự do hóa thương mại mạnh mẽ hơn.

Trên đây là nội dung Luật Minh Khuê sưu tầm và biên soạn. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900.6162 để được giải đáp.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng!

Luật Minh Khuê (Sưu tầm và biên tập).