1. Quyền tác giả có hiệu lực quốc tế không ?
Không giống như các quyền sở hữu trí tuệ khác buộc phải đăng ký, quyền tác giả không phụ thuộc vào các thủ tục hành chính. Một tác phẩm đã được sáng tạo ra được coi là đã được bảo hộ quyền tác giả ngay khi định hình. Theo hai công ước quốc tế về quyền tác giả (đặc biệt là Công ước Berne về bảo hộ tác phẩm văn học và nghệ thuật), các tác phẩm văn học và nghệ thuật được bảo hộ mà không cần tiến hành thủ tục bất kỳ tại nước thành viên của các công ước này. Theo Công ước Berne về bảo hộ các tác phẩm văn học và nghệ thuật, tác phẩm văn học và nghệ thuật được bảo hộ mà không cần thủ tục đăng ký bất kỳ tại các quốc gia thành viên của Công ước (151 quốc gia tính đến tháng 8 năm 2003 – danh sách các quốc gia thành viên ở Phụ lục VII). Quy định này cũng được áp dụng đối với tất cả thành viên của Tổ chức Thương mại thế giới. Nếu bạn là công dân hoặc cư dân khi đã phê chuẩn các công ước quốc tế trong lĩnh vực tác giả và quyền liên quan. Thì quyền tác giả, tác phẩm được bảo hộ tự động trong một số lượng lớn quốc gia. Trường hợp bạn chưa là thành viên của các công ước quốc tế thì vẫn có thể thỏa thuận có đi lại giữa các nước và một số quy định.
Do vậy, không có thủ tục đăng ký quốc tế để bảo hộ quyền tác giả như sáng chế, nhãn hiệu và kiểu dáng công nghiệp. Trong khi không có thủ tục quốc tế nào về đăng ký bảo hộ quyền tác giả ở nước ngoài và tác phẩm của bạn sẽ tự động được bảo hộ mà không cần đăng ký ở tất cả các quốc gia thành viên của Công ước Berne.
2. Căn cứ pháp lý theo Công ước Berne
Căn cứ vào Điều 3 và Điều 5 Công ước Berne quy định về quy tắc bảo hộ quyền tác giả quốc tế như sau:
Điều 3
(Tiêu chí về tư cách được bảo hộ: 1. Quốc tịch của tác giả; nơi công bố tác phẩm; 2. Nơi thường trú của tác giả; 3. Tác phẩm đã công bố; 4.Tác phẩm công bố đồng thời.)
1. Công ước này bảo hộ:
a. Tác phẩm của các tác giả là công dân của một trong những nước là thành viên của Liên hiệp dù những các tác phẩm của họ đã công bố hay chưa;
b. Tác phẩm của các tác giả không phải là công dân của một trong những nước là thành viên của Liên hiệp mà công bố lần đầu tiên ở một trong những nước thành viên của Liên hiệp, hay đồng thời công bố ở một nước trong và một nước ngoài Liên hiệp.
2. Các tác giả không phải là công dân của một nước thành viên Liên hiệp nhưng có nơi cư trú thường xuyên ở một trong những nước trên, theo mục đích của Công ước, cũng được coi như là tác giả công dân của nước thành viên đó.
3. "Tác phẩm đã công bố” là những tác phẩm đã được phát hành với sự đồng ý của tác giả, không phân biệt phương pháp cấu tạo các bản sao, miễn là các bản đó đáp ứng nhu cầu hợp lý của công chúng, tuỳ theo bản chất của tác phẩm. Không được coi là công bố: trình diễn một tác phẩm sân khấu, nhạc kịch hay hoà tấu, trình chiếu tác phẩm điện ảnh, đọc trước công chúng một tác phẩm văn học, phát thanh hay
3. Bảo hộ tác phẩm theo công ước Berne
Công ước Berne về bảo hộ các tác phẩm văn học và nghệ thuật, còn được gọi ngắn gọn là Công ước Berne, được ký tại Bern (Thụy Sĩ) năm 1886, lần đầu tiên thiết lập và bảo vệ quyền tác giả giữa các quốc gia có chủ quyền. Nó được hình thành sau các nỗ lực vận động của Victor Hugo. Trước khi có công ước Berne, các quốc gia thường từ chối quyền tác giả của các tác phẩm ngoại quốc. Một tác phẩm xuất bản ở một quốc gia được bảo vệ quyền tác giả tại đó, nhưng lại có thể bị sao chép và xuất bản tự do không cần xin phép tại quốc gia khác.
Hiện tại, Công ước Berne đã có hơn 170 quốc gia trên thế giới tham gia. Ngày 26 tháng 7 năm 2004, chính phủ Việt Nam đã nộp văn kiện gia nhập Công ước Berne. Trong văn kiện này, nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam tuyên bố bảo lưu các quy định tại Điều 33 của Công ước Berne và áp dụng chế độ ưu đãi dành cho các nước đang phát triển theo Điều II và Điều III của Phụ lục Công ước Berne. Công ước Berne có hiệu lực tại Việt Nam kể từ ngày 26 tháng 10 năm 2004.
4. Ai là chủ sở hữu tác phẩm? Quyền của chủ sở hữu?
Tổ chức, cá nhân có tác phẩm được bảo hộ quyền tác giả gồm người trực tiếp sáng tạo ra tác phẩm và chủ sở hữu quyền tác giả quy định tại các điều từ Điều 37 đến Điều 42 của Luật Sở hữu trí tuệ.
Chủ sở hữu thường là những người sáng tác, tạo ra tác phẩm đầu tiên. Tuy nhiên tại một số nước thì quyền tác giả khi sáng tác tác phẩm thì quyền tác giả đã thuộc về người sử dụng chính là lao động và nhà sản xuất, trong khi đó tại một số nước thì quyền tác giả lại được chuyển nhượng, chuyển giao cho nhà sản xuất, lao động. Vì vậy, trước khi tiến hành đăng ký bản quyền tác giả cần tìm hiểu rõ về hợp đồng cũng như các quy định về việc giao chuyển quyền tác giả.
Chủ sở hữu quyền tác giả là tổ chức, cá nhân nắm giữ một, một số hoặc toàn bộ các quyền tài sản (Điều 36 Luật Sở hữu trí tuệ). Tùy từng trường hợp chủ sở hữu quyền tác giả sẽ có một, một số hoặc toàn bộ các quyền tài sản sau:
Điều 20. Quyền tài sản
1. Quyền tài sản bao gồm các quyền sau đây:
a) Làm tác phẩm phái sinh;
b) Biểu diễn tác phẩm trước công chúng;
c) Sao chép tác phẩm;
d) Phân phối, nhập khẩu bản gốc hoặc bản sao tác phẩm;
đ) Truyền đạt tác phẩm đến công chúng bằng phương tiện hữu tuyến, vô tuyến, mạng thông tin điện tử hoặc bất kỳ phương tiện kỹ thuật nào khác;
e) Cho thuê bản gốc hoặc bản sao tác phẩm điện ảnh, chương trình máy tính.
2. Các quyền quy định tại khoản 1 Điều này do tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả độc quyền thực hiện hoặc cho phép người khác thực hiện theo quy định của Luật này.
3. Tổ chức, cá nhân khi khai thác, sử dụng một, một số hoặc toàn bộ các quyền quy định tại khoản 1 Điều này và khoản 3 Điều 19 của Luật này phải xin phép và trả tiền nhuận bút, thù lao, các quyền lợi vật chất khác cho chủ sở hữu quyền tác giả.
Ngoài ra, chủ sở hữu quyền tác giả còn có thể có quyền công bố hoặc cho phép người khác công bố tác phẩm. Theo đó, các quyền này do tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả độc quyền thực hiện hoặc cho phép người khác thực hiện theo quy định.Tổ chức, cá nhân khi khai thác, sử dụng một, một số hoặc toàn bộ các quyền tài sản và quyền công bố tác phẩm phải xin phép và trả tiền nhuận bút, thù lao, các quyền lợi vật chất khác cho chủ sở hữu quyền tác giả.
5. Đối tượng và thời hạn bảo hộ quyền tác giả
a) Người có quyền được đăng ký bản quyền tác giả
Những đối tượng có quyền đăng ký bảo hộ quyền tác giả gồm:
Cá nhân, tổ chức là người trực tiếp làm nên sản phẩm hay còn gọi là tác giả và chủ sở hữu quyền tác giả.
Chủ sở hữu quyền tác giả và tác giả trên có thể là: người nước ngoài, tổ chức nước ngoài lần đầu công bố tác phẩm ở Việt Nam mà chưa thực hiện công bố ở các nước khác hoặc công bố đồng thời trong vòng 30 ngày tại Việt Nam tính từ lúc tác phẩm đó lần đầu tiên công bố ở nước khác; các đối tượng có tác phẩm được bảo hộ quyền tác giả theo điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên.
b) Thời hạn bảo hộ quyền tác giả
Theo Điều 27 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 được sửa đổi, bổ sung bởi khoản 8 Điều 1 Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổi 2009, thời hạn bảo hộ quyền tác giả như sau:
Tác phẩm điện ảnh, nhiếp ảnh, mỹ thuật ứng dụng, tác phẩm khuyết danh có thời hạn bảo hộ là 75 năm, kể từ khi tác phẩm được công bố lần đầu tiên. Đối với tác phẩm điện ảnh, nhiếp ảnh, mỹ thuật ứng dụng chưa được công bố trong vòng 25 năm kể từ khi tác phẩm được định hình thì thời hạn bảo hộ là 100 năm, kể từ khi tác phẩm được định hình. Sau thời gian đó tác phẩm sẽ thuộc về công chúng.
Các tác phẩm khác không nằm trong các loại trên sẽ được bảo hộ trọn đời tác giả và thêm 50 năm sau khi tác giả qua đời; nếu tác phẩm nhiều tác giả thì thời hạn bảo hộ kết thúc vào 50 năm sau thời điểm đồng tác giả cuối cùng qua đời.
Đăng ký bản quyền tác giả hay còn gọi là bảo hộ bản quyền tác giả, mục đích là nhằm đảm bảo cho người sáng tạo ra tác phẩm chống lại các hành vi sử dụng trái phép tác phẩm như: ăn trộm, sao chép, lạm dụng tác phẩm đó. Trong trường hợp có tranh chấp xảy ra, Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả là bằng chứng tốt nhất chứng minh quyền sở hữu của tác giả đối với tác phẩm. Hơn nữa, nó cũng là một loại giấy tờ chứng minh quyền sở hữu tác phẩm, được sử dụng khi định giá tài sản của công ty trong trường hợp cổ phần hóa, mua bán, sáp nhập doanh nghiệp. Việc đăng ký bản quyền tác giả là một trong những thủ tục hành chính với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để chủ sở hữu muốn xin Giấy phép phát hành sách, truyện,…