- 1. Khái niệm hoàn trả tài sản và nghĩa vụ hoàn trả tài sản
- 2. Nghĩa vụ hoàn trả tài sản
- 2.1 Tài sản hoàn trả theo luật
- 2.2 Nghĩa vụ hoàn trả các hoa lợi, lợi tức
- 3. Nghĩa vụ hoàn trả do chiếm hữu tài sản không có căn cứ pháp luật
- 3.1 Chiếm hữu có căn cứ pháp luật là gì?
- 3.2 Như thế nào là chiếm hữu không có căn cứ pháp luật?
- 3.3 Điều kiện thực hiện nghĩa vụ hoàn trả tài sản do chiếm hữu, sử dụng và được lợi không có căn cứ pháp luật
- 4. Nghĩa vụ của người chiếm hữu, sử dụng tài sản không có căn cứ pháp luật
- 4.1 Người chiếm hữu, sử dụng ngay tình
- 4.2 Nghĩa vụ của người chiếm hữu, sử dụng tài sản không ngay tình
- 4.3 Nghĩa vụ của chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp
1. Khái niệm hoàn trả tài sản và nghĩa vụ hoàn trả tài sản
Hoàn trả lại tài sản là việc trả lại tài sản cho chủ sở hữu hoặc người chiếm hữu, sử dụng, quản lý tài sản. Trả lại một cách đầy đủ và nguyên vẹn những gì đã mượn hoặc những gì đã lấy
Còn nghĩa vụ hoàn trả tài sản được pháp luật quy định cụ thể tại Điều 579 Bộ luật dân sự năm 2015, cụ thể như sau:
"Điều 579. Nghĩa vụ hoàn trả
1. Người chiếm hữu, người sử dụng tài sản của người khác mà không có căn cứ pháp luật thì phải hoàn trả cho chủ sở hữu, chủ thể có quyền khác đối với tài sản đó; nếu không tìm được chủ sở hữu, chủ thể có quyền khác đối với tài sản thì phải giao cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền, trừ trường hợp quy định tại Điều 236 của Bộ luật này.
2. Người được lợi về tài sản mà không có căn cứ pháp luật làm cho người khác bị thiệt hại thì phải hoàn trả khoản lợi đó cho người bị thiệt hại, trừ trường hợp quy định tại Điều 236 của Bộ luật này".
2. Nghĩa vụ hoàn trả tài sản
2.1 Tài sản hoàn trả theo luật
Các tài sản mà pháp luật quy định người chiếm hữu phải có nghĩa vụ hoàn trả, cụ thể như sau:
- Người chiếm hữu, người sử dụng tài sản mà không có căn cứ pháp luật phải hoàn trả toàn bộ tài sản đã thu được;
- Trường hợp tài sản hoàn trả là vật đặc định thì phải hoàn trả lại đúng cho chủ sở hữu đúng vật đó; Nếu tài sản vật chất đặc định đố bị mất hoặc bị hư hỏng thì người chiếm giữ phần tài sản này khi hoàn trả người hoàn trả phải có nghĩa vụ đền bù bằng tiền, trừ trường hợp các bên có sự thảo thuận khác;
- Trường hợp tài sản hoàn trả là các vật cùng loại, nhưng lại bị mất hoặc bị hư hỏng thì phải trả lại vật cùng loại hoặc có nghĩa vụ đền bù bằng tiền, trừ trường hợp có thảo thuận khác;
- Người được lợi về tài sản mà không có căn cứ pháp luật phải có nghĩa vụ hoàn trả khoản lợi về tài sản đó cho người bị thiệt hại bằng hiện vật hoặc bằng tiền.
Trường hợp người chiếm hữu tài sản, người sử dụng tài sản mà không có căn cứ pháp luật đã giao tài sản đó cho người thứ ba thì khi bị chủ sở hữu, chủ thể có quyền khác đối với tài sản yêu cầu hoàn trả, người thứ ba có nghĩa vụ hoàn trả tài sản đó, trừ các trường hợp Bộ luật dân sự năm 2015 có các quy định khác; nếu trường hợp tài sản đố đã được trả bằng tiền hoặc có đền bù thì người thứ ba có quyền yêu cầu người đã giao tài sản cho mình bồi thường các khoản thiệt hại.
Bộ luật dân sự hiện hành của Việt Nam áp dụng nguyên tắc ưu tiên bảo vệ quyền sở hữu của chủ sở hữu so với quyền chiếm hữu của người thứ ba ngay tình. Vì vậy, khi tài sản do chiếm hữu, sử dụng không có căn cứ pháp luật đã giao chuyển cho người thứ 3 thì người này phải hoàn trả lại tài sản đó cho chủ sở hữu hoặc người chiếm hữu hợp pháp theo yêu cầu của họ ngay cả khi người chiếm hữu, sử dụng tài sản không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình. Nếu việc chuyển giao tài sản cho người thứ ba là hợp đồng có đền bù (như mua, bán, đổi, vay…) thì người thứ ba có quyền yêu cầu người đã giao tài sản cho mình bồi thường thiệt hại. Còn nếu việc chuyển giao là không có đền bù (tặng, cho, mượn…) thì người thứ ba không có quyền này.
2.2 Nghĩa vụ hoàn trả các hoa lợi, lợi tức
Người chiếm hữu, người sử dụng tài sản, người được lợi về tài sản mà không có căn cứ pháp luật và không ngay tình thì phải hoàn trả hoa lợi, lợi tức thu được từ thời điểm chiếm hữu, sử dụng tài sản, được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật. Người chiếm hữu, người sử dụng tài sản, người được lợi về tài sản mà không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình thì phải hoàn trả hoa lợi, lợi tức thu được từ thời điểm người đó biết hoặc phải biết việc chiếm hữu, sử dụng tài sản, được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật, trừ các trường hợp pháp luật có quy định khác.
3. Nghĩa vụ hoàn trả do chiếm hữu tài sản không có căn cứ pháp luật
3.1 Chiếm hữu có căn cứ pháp luật là gì?
Điều 165 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định về chiếm hữu không có căn cứ pháp luật như sau:
"Điều 165. Chiếm hữu có căn cứ pháp luật
1. Chiếm hữu có căn cứ pháp luật là việc chiếm hữu tài sản trong trường hợp sau đây:
a) Chủ sở hữu chiếm hữu tài sản;
b) Người được chủ sở hữu ủy quyền quản lý tài sản;
c) Người được chuyển giao quyền chiếm hữu thông qua giao dịch dân sự phù hợp với quy định của pháp luật;
d) Người phát hiện và giữ tài sản vô chủ, tài sản không xác định được ai là chủ sở hữu, tài sản bị đánh rơi, bị bỏ quên, bị chôn, giấu, bị vùi lấp, chìm đắm phù hợp với điều kiện theo quy định của Bộ luật này, quy định khác của pháp luật có liên quan;
đ) Người phát hiện và giữ gia súc, gia cầm, vật nuôi dưới nước bị thất lạc phù hợp với điều kiện theo quy định của Bộ luật này, quy định khác của pháp luật có liên quan;
e) Trường hợp khác do pháp luật quy định.
2. Việc chiếm hữu tài sản không phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều này là chiếm hữu không có căn cứ pháp luật".
3.2 Như thế nào là chiếm hữu không có căn cứ pháp luật?
Nếu trong trường hợp việc chiếm hữu tài sản mà không thuộc các trường hợp được quy định tại Điều 168 Bộ luật dân sự năm 2015 thì sẽ được coi là chiếm hữu không có căn cứ pháp luật.
Tuy nhiên trong thực tế diễn ra thì có những trường hợp việc chiếm hữu, sử dụng lại không dựa theo quy định về chiếm hữu tài sản có căn cứ theo quy định tại Điều 168 Bộ luật dân sự năm 2015. Khi việc chiếm hữu phát sinh trong các trường hợp này hành vi chiếm hữu và sử dụng được coi là là hành vi bất hợp pháp (vi phạm các quy định của pháp luật). Người thực hiện việc chiếm hữu,s ử dụng tài sản phải có nghĩa vụ trả lại tài sản đó cho chủ sở hữu của tài sản.
Các căn cứ để phát sinh nghĩa vụ hoàn trả tài sản do việc chiếm hữu, sử dụng tài sản có thể do các hành vi trái pháp luật chiếm đoạt tài sản của người khác hoặc việc chiếm hữu tài sản của một chủ thể ngay tình. Chủ thể không biết hoặc không thể biết việc chiếm hữu của mình là không có căn cứ pháp luật. Khi một chủ thể chiếm hữu, sử dụng tài sản của người khác ngay tình hoặc không ngay tình đều phải trả lại tài sản đó cho chủ sở hữu của nó. Ngoài ra nếu việc chiếm hữu và sử dụng tài sản không ngay tình mà thu được những lợi ích nhất định thì phải hoàn trả lại những lợi ích đó cho chủ sở hữu.
3.3 Điều kiện thực hiện nghĩa vụ hoàn trả tài sản do chiếm hữu, sử dụng và được lợi không có căn cứ pháp luật
Điều kiện của nghĩa vụ hoàn trả do chiếm hữu, sử dụng, được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật bao gồm các điều kiện như sau:
- Phải có người đã chiếm hữu, sử dụng hoặc được lời từ phần tài sản của người khác;
- Từ những hành vi chiếm hữu, sử dụng tài sản của người khác và đã gây ra các thiệt hại cho người khác. Thiệt hại ở đây có thể được xác định là làm giảm đi tài sản hoặc là làm cho giá trị tài sản của người khác không thể gia tăng thêm;
- Có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi chiếm hữu, sử dụng hoặc được lợi về tài sản và việc gây thiệt hại;
- Không có cơ sở pháp lý của việc chiếm hữu, sửu dụng hoặc được lợi từ phần tài sản đó. Đây là một trong những điều kiện quan trọng nhất để phân biệt chế định này với các chế định khác trong pháp luật dân sự như phạt vi phạm hợp đồng, khoản tiền bồi thường thiệt hại,...
4. Nghĩa vụ của người chiếm hữu, sử dụng tài sản không có căn cứ pháp luật
4.1 Người chiếm hữu, sử dụng ngay tình
Nếu người chiếm hữu, người sử dụng tài sản của người khác nhưng chưa làm hư hỏng tài sản phải trả lại tài sản đó cho chủ sở hữu trong tình trạng chủ sở hữu phát hiện được hoặc người chiếm hữu, sử dụng biết được hoặc phải biết được mình đang chiếm hữu phần tài sản của người khác.
Nếu người đó cố tình chiếm hữu, sử dụng tài sản phải hoàn trả hoa lợi, lợi tức thu được từ tài sản kể từ thời điểm chiếm hữu và bồi thường thiệt hại cho chủ sở hữu (nếu có). Trường hợp này, hành vi của người chiếm hữu, sử dụng là ngay tình nhưng do cố ý chiếm hữu, sử dụng tài sản nên đã trở thành không ngay tình.
4.2 Nghĩa vụ của người chiếm hữu, sử dụng tài sản không ngay tình
Chiếm hữu, sử dụng tài sản không ngay tình là việc chiếm đoạt tài sản của người khác một cách trái với các quy định của pháp luật, gây ra các hậu quả nghiêm trọng cho xã hội. Người có hành vi chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật này phải khắc phục hậu quả cho người chủ sở hữu tài sản. Ngoài việc trả lại tài sản nhưng trọng tình trạng mình chiếm hữu bất hợp pháp còn phải hoàn trả hoa lợi, lợi tức thu được từ tài sản đó trong suốt cả thời gian chiếm hữu và sử dụng.
Nếu do việc chiếm hữu bất hợp pháp mà gây thiệt hại cho chủ sở hữu tài sản ( như thu nhập bị mất từ tài sản) thì phải bồi thường toàn bộ thiệt hại xảy ra. Thiệt hại thực tế phải được bồi thường toàn bộ và kịp thời. Các bên có thể thỏa thuận về mức bồi thường, hình thức bồi thường bằng tiền, bằng hiện vật hoặc thực hiện một công việc, phương thức bồi thường một lần hoặc nhiều lần, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
4.3 Nghĩa vụ của chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp
Khi chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp đã nhận được tài sản của mình phải có nghĩa vụ thanh toán cho người chiếm hữu ngay tình những chi phí cần thiết, hợp lý để bảo quản, sữa chữa phần tài sản. Nghĩa vụ đó được thể hiện trong điều kiện bình thường thì chủ sở hữu cũng phải bỏ ra các chi phí nếu không tài sản của họ cũng sẽ bị hư hỏng, giảm bớt chất lượng.
Chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp khi nhận tài sản phải thanh toán những chi phí làm tăng giá trị của tài sản. Xét về ý thức chủ quan, người chiếm hữu, sử dụng tài sản không có căn cứ nhưng ngay tình, chưa biết được tài sản đó là của người khác, tự họ bỏ ra những chi phí làm tăng giá trị tài sản để thỏa mãn lợi ích của chính họ, lợi ích đó được coi là hợp pháp. Nhưng khi chủ sở hữu phát hiện được, người chiếm hữu, sử dụng tài sản không có căn cứ pháp luật đó vẫn tiếp tục chi phí để làm tăng giá trị của tài sản thì không có quyền yêu cầu chủ sở hữu tài sản phải thanh toán.
Trường hợp này, người thực tế đang chiếm hữu tài sản phải hoàn trả ngay tài sản cho chủ sở hữu, chủ sở hữu sẽ quyết định số phận thực tế của tài sản
Luật Minh Khuê (Sưu tầm & Biên tập)