1. Điều kiện xác lập nghĩa vụ hoàn trả tài sản do chiếm hữu, sử dụng tài sản không có căn cứ pháp luật

- Có việc chiếm hữu, sử dụng tài sản. Bộ luật dân sự quy định, “người nào chiếm hữu, sử dụng tài sản của người khác”. Điều này cho phép hiểu rằng, nghĩa vụ hoàn trả chỉ phát sinh một khi việc chiếm hữu, sử dụng tài sản là có thật, có tính hiện thực.

Bộ luật dân sự không xác định rõ, trong hoàn cảnh nào việc chiếm hữu, sử dụng tài sản của người khác xảy ra. Tuy nhiên, một cách hợp lý, phải có một vụ chuyển giao tài sản từ người khác đó, do nhầm lẫn: nếu người có tài sản không giao, mà tài sản lại được người khác chiếm hữu, sử dụng, thì chắc chắn phải coi việc chiếm hữu, sử dụng đó là trái với ý muốn của chủ sở hữu, nghĩa là gây thiệt hại cho chủ sở hữu. Trong trường hợp việc chiếm hữu, sử dụng tài sản của người khác mà gây thiệt hại cho người khác đó, thì phải ghi nhận tình trạng được lợi về tài sản mà không có căn cứ pháp luật.

Trường hợp tài sản đã rời khỏi phạm vi kiểm soát của người chuyển giao nhưng người được cho là người tiếp nhận lại chưa có điều kiện đặt tài sản trong phạm vi quản lý của mình, thì việc chiếm hữu, sử dụng tài sản của người này chưa được ghi nhận.

- Việc chiếm hữu, sử dụng tài sản là không có căn cứ pháp luật. Người bị coi là chiếm hữu, sử dụng tài sản mà không có căn cứ pháp luật là người không có tư cách pháp lý để nắm giữ, quản lý, khai thác tài sản. Theo Điều 165 Bộ luật dân sự 2015 có quy định:

Điều 165. Chiếm hữu có căn cứ pháp luật

1. Chiếm hữu có căn cứ pháp luật là việc chiếm hữu tài sản trong trường hợp sau đây:

a) Chủ sở hữu chiếm hữu tài sản;

b) Người được chủ sở hữu ủy quyền quản lý tài sản;

c) Người được chuyển giao quyền chiếm hữu thông qua giao dịch dân sự phù hợp với quy định của pháp luật;

d) Người phát hiện và giữ tài sản vô chủ, tài sản không xác định được ai là chủ sở hữu, tài sản bị đánh rơi, bị bỏ quên, bị chôn, giấu, bị vùi lấp, chìm đắm phù hợp với điều kiện theo quy định của Bộ luật này, quy định khác của pháp luật có liên quan;

đ) Người phát hiện và giữ gia súc, gia cầm, vật nuôi dưới nước bị thất lạc phù hợp với điều kiện theo quy định của Bộ luật này, quy định khác của pháp luật có liên quan;

e) Trường hợp khác do pháp luật quy định.

2. Việc chiếm hữu tài sản không phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều này là chiếm hữu không có căn cứ pháp luật.

2. Điều kiện xác lập nghĩa vụ hoàn trả tài sản khi được lợi về tài sản mà không có căn cứ pháp luật

- Có sự gia tăng giá trị tài sản hoặc sự thụ hưởng lợi ích. Khoản 2 Điều 579 Bộ luật dân sự nhắc đến người được lợi về tài sản một cách chung chung. Chắc chắn, việc được lợi được ghi nhận trong trường hợp khối tài sản có của chủ thể gia tăng giá trị. Về phương diện kế toán, sự gia tăng ấy là kết quả cân đối tài sản có và tài sản nợ, cho thấy một số dư ròng khả quan hơn so với trước khi sự việc xảy ra dẫn đến tình trạng được lợi về tài sản. Đó có thể là sự xuất hiện yếu tố mới trong khối tài sản có (một số tiền được nhập vào tài khoản chẳng hạn) hoặc sự biến mất của một hoặc nhiều yếu tố trong khối tài sản nợ (một món nợ của bản thân được người khác trả hộ,...).

- Có sự thiệt hại về tài sản mà người khác gánh chịu. Khoản 2 Điều 579 Bộ luật dân sự ghi nhận thiệt hại mà một người phải gánh chịu như là điều kiện để áp dụng điều luật. Đây là điểm tạo sự khác biệt giữa được lợi về tài sản mà không có căn cứ pháp luật và chiếm hữu, sử dụng tài sản mà không có căn cứ pháp luật.

Thiệt hại được hiểu là sự tổn thất đối với chủ thể. Về mặt định lượng, đó phải là sự giảm sút giá trị khối tài sản có của chủ thể so với trước khi xảy ra thiệt hại.

Có trường hợp một người làm cho người khác hưởng lợi nhưng không chịu thiệt hại, thì không thể đòi người khác giao cho mình số lợi đó chỉ với lý do là người này không tự mình tạo ra số lợi. Một người tư vấn cho người khác chơi cá cược hoặc mua vé số không thể đòi chia sẻ với người chơi, người mua số tiền trúng cá cược, trúng số mà người này thu được.

- Có mối liên hệ nhân quả giữa việc một người được lợi và một người khác chịu thiệt hại. Điều quan trọng, để tình trạng được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật được ghi nhận là giữa sự thiệt hại của một người là tình trạng được lợi của một người khác có mối liên hệ nhân quả: chính sự thiệt hại của người này là nguyên nhân việc được lợi của người kia. Đúng hơn, sự thiệt hại của người này thể hiện thành việc được lợi của người kia.

Bộ luật dân sự không xác định rõ ai là người phải chịu trách nhiệm chứng minh về mối liên hệ nhân quả. Một cách hợp lý, người nào cho rằng việc một người khác hưởng lợi là do đã lấy đi lợi ích vật chất của mình, thì phải chứng minh điều đó.

- Thế nào là không có căn cứ pháp luật? Tình trạng được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật được ghi nhận trong điều kiện không có bất kỳ một quy tắc pháp lý nào có thể được dùng để đặt cơ sở cho việc được lợi đó. Ví dụ: Một người nhặt được một chiếc ví của người khác bị đánh rơi không thể biện minh cho việc giữ lấy số tiền có trong ví làm của riêng.

- Chỉ cần tình trạng được lợi không có căn cứ pháp luật. Nếu tình trạng được lợi có căn cứ pháp luật, thì người bị thiệt hại không thể kiện cáo, ngay cả trong trường hợp tình trạng thiệt hại là không hợp lý đối với người bị thiệt hại.

- Lỗi của người bị thiệt hại. Có trường hợp sự thiệt hại xảy ra là do lỗi của người bị thiệt hại. Bộ luật dân sự không xác định rõ ràng cách giải quyết vấn đề trong trường hợp này. Điều đó có nghĩa là, về mặt lý thuyết người bị thiệt hại mà tạo ra lợi ích để người khác thụ hưởng mà không có căn cứ có quyền yêu cầu hoàn trả ngay cả trong trường hợp thiệt hại gây ra do lỗi của mình.

Tuy nhiên, trong khuôn khổ chế độ bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, khoản 2 Điều 584 Bộ luật dân sự quy định, người gây thiệt hại không phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp thiệt hại phát sinh là hoàn toàn do lỗi của bên bị thiệt hại trừ trường hợp có thoả thuận khác hoặc luật có quy định khác. Nếu áp dụng phương pháp suy lý để phân tích câu chữ của các điều luật có liên quan, thì có thể thừa nhận rằng một khi người bị thiệt hại có lỗi thì người hưởng lợi không có nghĩa vụ hoàn trả phần tài sản, lợi ích thu được tương ứng với phần lỗi đó.

3. Nghĩa vụ hoàn trả của người chiếm hữu, sử dụng tài sản không có căn cứ pháp luật

Về nguyên tắc, người chiếm hữu, sử dụng tài sản của người khác mà không có căn cứ pháp luật thì phải hoàn trả cho chủ sở hữu, chủ thể có quyền khác đối với tài sản đó. Khoản 3 Điều 579 Bộ luật dân sự 2015 quy định: "Người chiếm hữu, người sử dụng tài sản của người khác mà không có căn cứ pháp luật thì phải hoàn trả cho chủ sở hữu, chủ thể có quyền khác đối với tài sản đó; nếu không tìm được chủ sở hữu, chủ thể có quyền khác đối với tài sản thì phải giao cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền, trừ trường hợp quy định tại Điều 236 của Bộ luật này."

Ví dụ: A phát hiện con gia súc của ai đó thất lạc nhưng không thực hiện các thủ tục thông báo tìm kiếm chủ sở hữu theo luật định. Lúc này, việc chiếm hữu con bò của A là không tuân thủ các quy định của pháp luật, và A đang là người chiếm hữu không có căn cứ pháp luật tài sản (con bò) đó. Theo đó, A có nghĩa vụ hoàn trả lại tài sản cho chủ sở hữu, người có quyền khác đối với tài sản (con bò) đó.

Trên thực tế, người chiếm hữu, sử dụng tài sản không có căn cứ pháp luật có thể không biết được chủ sở hữu, người có quyền khác đối với tài sản là ai nên khó có thể thực hiện nghĩa vụ hoàn trả. Tuy nhiên, để đảm bảo quyền lợi cho chủ sở hữu, chủ thể có quyền khác đối với tài sản, Bộ luật dân sự buộc người hoàn trả phải tài sản đó cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền (ví dụ: ủy ban nhân dân cấp xã, cơ quan công an địa phương,...).

4. Nghĩa vụ hoàn trả của người được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật

Theo khoản 2 Điều 579 Bộ luật dân sự 2015:

"Người được lợi về tài sản mà không có căn cứ pháp luật làm cho người khác bị thiệt hại thì phải hoàn trả khoản lợi đó cho người bị thiệt hại, trừ trường hợp quy định tại Điều 236 của Bộ luật này."

Vấn đề đặt ra là khi một người được lợi về tài sản mà không có căn cứ pháp luật thì chắc chắn sẽ có người bị thiệt hại, nên cụm từ “làm cho người khác bị thiệt hại” dường như là không cần thiết. Hơn nữa, cụm từ này có thể khiến cho người đọc hiểu rằng có những trường hợp một người được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật mà không làm cho người khác biệt thiệt hại. Hơn nữa, pháp luật cũng không có quy định người được lợi về tài sản được hiểu như thế nào. Tuy nhiên, có thể hiểu người được lợi về tài sản là người có khối tài sản được gia tăng nhưng họ có thể biết hoặc buộc phải biết, có thể không biết và cũng không buộc phải biết việc giá trị tài sản tăng lên. Ví dụ: Được trả nhầm tiền, được người khác chuyển tiền vào tài khoản ngân hàng, được người khác nạp thẻ điện thoại,... Tuy nhiên, cho dù người đó có biết hay không biết và không buộc phải biết về việc được lợi đó thì họ vẫn phải thực hiện nghĩa vụ hoàn trả tài sản cho người bị thiệt hại.

Theo quy định tại Điều luật này, nếu người chiếm hữu, người được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình, liên tục, công khai trong thời hiệu 10 năm đối với động sản, 30 năm đối với bất động sản theo quy định tại Điều 236 Bộ luật này thì không phải hoàn trả tài sản cho chủ sở hữu, chủ thể có quyền khác đối với tài sản cũng như người bị thiệt hại.

5. Tài sản hoàn trả

- Vê đối tượng hoàn trả, theo quy định tại Điều 580 Bộ luật dân sự 2015, đối tượng hoàn trả chỉ có thể là vật hoặc là tiền.

- Về mức độ hoàn trả, người chiếm hữu, sử dụng tài sản, người được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật phải hoàn trả toàn bộ tài sản đã thu được hoặc khoản lợi có được về tài sản đó. Việc xác định mức độ hoàn trả trong nhiều trường hợp sẽ rất khó khăn, đặc biệt khi giá trị của tài sản tại thời điểm hoàn trả đã thay đổi so với thời điểm chiếm hữu, sử dụng, được lợi. Hơn nữa, trong nhiều trường hợp, tại thời điểm chiếm hữu, sử dụng, được lợi chỉ có người chiếm hữu, sử dụng, được lợi mới biết chính xác số lượng, giá trị của tài sản đó là bao nhiêu, nên chủ sở hữu, chủ thể có quyền khác đối với tài sản, người bị thiệt hại khó có thể chứng minh được số lượng, giá trị của tài sản là bao nhiêu.

- Về phương thức hoàn trả, nếu tài sản là vật đặc định thì người hoàn trả phải trao trả đúng vật đó. Trong trường hợp vật đặc định không còn do bị mất hoặc bị hư hỏng mà không thể sửa chữa thì phương thức hoàn trả sẽ do các bên thỏa thuận. Nếu không có thỏa thuận thì người hoàn trả phải đền bù bằng tiền tương ứng với giá trị của tài sản. Việc định giá tài sản trong nhiều trường hợp có thể do Hội đồng thẩm định giá hoặc trung tâm thẩm định giá xác định theo yêu cầu của các bên hoặc của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Trong trường hợp tài sản hoàn trả là vật cùng loại nhưng đã bị hư hại thì phải dùng vật cùng loại khác để thay thế. Tuy nhiên, các bên cũng có thể thỏa thuận bồi thường bằng một khoản tiền cụ thể.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua Email : Tư vấn pháp luật qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Trân trọng./.