Lý thuyết kinh tế đề xướng bởi nhà kinh tế người Anh John Maynard Keynes (1883-1946) và những người theo sau. Keynes quan niệm rằng chính phủ nên sử dụng sức mạnh ngân sách để duy trì sự tăng trưởng và ổn định về kinh tế, và vượt qua những chu kỳ suy thoái thường xảy ra trong đa số các nền kinh tế phương Tây. Đối với mục đích này thì Keynes lý luận, trong công trình của ông - Lý thuyết chung về Việc Làm, Lãi suất và Tiền tệ (1935), rằng các chính phủ trở thành là những nhà quản lý năng động của nền kinh tế, bằng cách điều khiển các chính sách thuế và chi tiêu. Theo quan điểm của Keynes, thì chi tiêu thâm hụt kích thích sự phát triển của lĩnh vực tư nhân trong các thời kỳ khi nền kinh tế tăng trưởng kém.

Những nhà phê bình học thuyết kinh tế của Keynes, đặc biệt là những nhà theo chủ nghĩa trọng tiền, nói rằng ổn định kinh tế đạt được tốt nhất bằng cách kiểm soát tín dụng và sự tăng cung tiền. Các nhà trọng tiền phê bình học thuyết kinh tế của Keynes phụ thuộc quá nhiều vào các chính sách thuế và chi tiêu của chính phủ, mà họ nói là kích thích quá mức nền kinh tế, gây ra tỉ lệ lạm phát cao, và góp phần vào các chu kỳ bùng nổ và bể vỡ (boom and bust) trong nền kinh tế xảy ra kể từ giữa thập niên 1970.

1.Khái niệm  kinh tế học Keynes.

Kinh tế học Keynes là một lí thuyết kinh tế về tổng chi tiêu trong nền kinh tế và những ảnh hưởng của nó đến sản lượng và lạm phát. John Maynard Keynes trong những năm 1930 trong nỗ lực tìm hiểu về cuộc Đại khủng hoảng. Keynes tán thành việc tăng chi tiêu của chính phủ và giảm thuế để kích thích nhu cầu và kéo nền kinh tế thế giới thoát khỏi suy thoái.

Kinh tế học Keynes đã được sử dụng để đưa ra định nghĩa rằng hiệu quả kinh tế tối ưu có thể đạt được và sự suy thoái kinh tế được ngăn chặn bằng cách đến tác động đến tổng cầu thông qua chính sách của chính phủ nhằm ổn định hoạt động và can thiệp vào nền kinh tế. Kinh tế học Keynes được coi là một lí thuyết "phía cầu" tập trung vào những thay đổi ngắn hạn trong nền kinh tế.

2.Tác động của kinh tế học Keynes tới các chính sách kinh tế

Tác động tới chính sách tài khóa

Theo lí thuyết về kích thích tài khóa của Keynes, việc bơm chi tiêu chính phủ cuối cùng sẽ dẫn đến hoạt động kinh doanh bổ sung và thậm chí chi tiêu nhiều hơn.

Lí thuyết này chỉ ra rằng việc chi tiêu làm tăng tổng sản lượng và tạo thêm thu nhập. Nếu người lao động sẵn sàng chi thêm thu nhập của họ kết quả tăng trưởng của tổng sản phẩm quốc nội (GDP) có thể còn lớn hơn lượng tiền kích thích ban đầu của chính phủ.

Độ lớn của hệ số nhân Keynes có liên quan trực tiếp đến xu hướng tiêu dùng cận biên. Chi tiêu của một người tiêu dùng trở thành thu nhập cho một người khác. Thu nhập của người này sau đó chuyển thành chi tiêu và cứ thế chu kì tiếp tục. Keynes và những người ủng hộ ông tin rằng các cá nhân nên tiết kiệm ít hơn và chi tiêu nhiều hơn để nâng cao xu hướng tiêu dùng cận biên của họ nhằm tạo ra việc làm đầy đủ và tăng trưởng kinh tế.

Tác động tới chính sách tiền tệ

Kinh tế học Keynes tập trung vào các giải pháp về phía cầu cho thời kì suy thoái. Sự can thiệp của chính phủ vào sự phát triển kinh tế là một vũ khí quan trọng của kinh tế học Keynes trong cuộc chiến chống lại nạn thất nghiệp, thiếu việc làm và nhu cầu tiêu dùng thấp. Sự nhấn mạnh vào việc can thiệp trực tiếp của chính phủ vào nền kinh tế đặt các nhà kinh tế học theo chủ nghĩa Keynes trong tình trạng bất hòa với những tranh luận về giới hạn của chính phủ khi tác động vào thị trường.

Giảm lãi suất là một cách chính phủ có thể can thiệp đúng nghĩa vào các hệ thống kinh tế, từ đó tạo ra nhu cầu kinh tế tích cực. Các nhà kinh tế theo chủ nghĩa của Keynes cho rằng kinh tế không tự ổn định một cách nhanh chóng mà cần có sự can thiệp tích cực làm tăng nhu cầu trong ngắn hạn trong nền kinh tế. Theo họ, tiền lương và việc làm đáp ứng nhu cầu của thị trường chậm hơn nên đòi hỏi phải có sự can thiệp của chính phủ để chúng đi đúng hướng.

Giá cả cũng không phản ứng nhanh nên chỉ có sự can thiệp của chính sách tiền tệ thì chúng mới thay đổi dần dần. Bởi sự thay đổi giá cả chậm chạp này mới khiến cho chính sách tiền tệ có khả năng sử dụng cung tiền như một công cụ để thay đổi lãi suất nhằm khuyến khích đi vay và cho vay.

Tăng cầu trong ngắn hạn bắt đầu bằng việc cắt giảm lãi suất tái tạo hệ thống kinh tế và khôi phục việc làm và nhu cầu dịch vụ. Các hoạt động kinh tế mới sau đó tiếp tục được duy trì sức tăng trưởng và việc làm.

Không có sự can thiệp, các nhà lí thuyết của Keynes tin rằng, chu kì này bị gián đoạn và tăng trưởng thị trường trở nên bất ổn hơn và dễ bị biến động quá mức. Giữ lãi suất thấp là một nỗ lực để kích thích chu kì kinh tế bằng cách khuyến khích các doanh nghiệp và cá nhân vay thêm tiền.

Khi cho vay được khuyến khích, các doanh nghiệp và cá nhân thường tăng chi tiêu của họ. Chi tiêu mới này kích thích nền kinh tế. Tuy nhiên, việc giảm lãi suất không phải lúc nào cũng trực tiếp dẫn đến cải thiện kinh tế.

3. Các trường phái kinh tế

Ở thời điểm Cuộc Đại Suy thoái những năm 1930, lý thuyết kinh tế thời bấy giờ đã không thể giải thích căn nguyên của sự sụp đổ kinh tế nghiêm trọng này lẫn cung cấp một chính sách công phù hợp để tái thúc đẩy sản xuất và việc làm.

Nhà kinh tế học người Anh John Maynard Keynes đã dẫn đầu cuộc cách mạng về tư tưởng kinh tế khi phủ nhận ý tưởng đang thống trị thời bấy giờ rằng các thị trường tự do sẽ tự động đạt tới trạng thái toàn dụng lao động – bất cứ ai có nhu cầu đều sẽ có việc làm miễn là người lao động chấp nhận linh hoạt với yêu cầu tiền công của họ.  Bối cảnh chính của học thuyết Keynes, sau này được mang tên ông, là sự khẳng định rằng tổng cầu – được đo bởi tổng chi tiêu của hộ gia đình, doanh nghiệp và chính phủ – mới chính là động lực quan trọng nhất của nền kinh tế. Keynes tiếp tục cho rằng các thị trường tự do không có cơ chế tự cân bằng dẫn tới trạng thái toàn dụng lao động. Các nhà kinh tế theo chủ nghĩa Keynes nhấn mạnh vai trò của sự can thiệp đến từ chính phủ thông qua các chính sách công để đạt được trạng thái toàn dụng lao động và sự ổn định giá cả.

4.Ý tưởng mang tính cách mạng

Keynes lập luận rằng tổng cầu không đủ có thể dẫn tới thời kỳ tình trạng thất nghiệp cao kéo dài. Tổng sản phẩm hàng hóa và dịch vụ của một nền kinh tế là tổng của bốn nhân tố: tiêu dùng, đầu tư, chi tiêu công và xuất khẩu. Bất cứ tăng trưởng nào của tổng cầu phải đến từ một trong bốn yếu tố trên. Tuy vậy, trong thời kỳ suy thoái, các nhân tố quan trọng thường làm giảm tổng cầu khi chi tiêu giảm. Ví dụ, vào lúc nền kinh tế đi xuống, các yếu tố không chắc chắn thường làm giảm niềm tin của người tiêu dùng, khiến họ chi tiêu ít hơn, đặc biệt đối với các chi tiêu xa xỉ như nhà hay xe hơi. Việc giảm chi tiêu ở người tiêu dùng có thể làm vốn đầu tư của các doanh nghiệp, bởi các doanh nghiệp phải phản ứng với lượng giảm tổng cầu. Điều này đặt nhiệm vụ tăng tổng sản phẩm lên vai chính phủ. Theo học thuyết kinh tế Keynes, sự can thiệp của nhà nước là cần thiết để điều tiết sự bùng nổ và sụp đổ trong hoạt động kinh tế, hay còn gọi là chu kỳ kinh tế.

Có ba nguyên lý chính trong mô tả của học thuyết Keynes về cách hoạt động của nền kinh tế:

Tổng cầu bị ảnh hưởng bởi nhiều quyết định kinh tế – cả nhà nước và tư nhân. Các quyết định của khu vực tư nhân đôi khi dẫn tới những viễn cảnh kinh tế vĩ mô bất lợi, ví dụ như giảm chi tiêu cho tiêu dùng trong thời kỳ suy thoái. Những thất bại thị trường này đôi khi cần tới các chính sách chủ động của chính phủ, như gói kích thích tài khóa . Do đó, kinh tế học Keynes ủng hộ một nền kinh tế hỗn hợp định hướng chủ yếu bởi khu vực tư nhân và một phần bởi sự điều tiết của chính phủ.

Giá cả, đặc biệt là tiền lương, phản ứng chậm chạp với các thay đổi về cung và cầu, dẫn đến tình trạng thiếu hụt và dư thừa theo chu kỳ, đặc biệt là về lao động.

Sự thay đổi trong tổng cầu, cho dù được đoán trước hay không, là nhân tố tác động mạnh mẽ nhất tới tổng sản phẩm và tình trạng việc làm trong ngắn hạn, chứ không tác động đến giá cả.

Không một chính sách nào đơn thuần tuân theo ba nguyên lý này. Điều phân biệt các nhà kinh tế học Keynes với các trường phái kinh tế học khác là niềm tin của họ trong các chính sách để giảm thiểu biên độ của chu kỳ kinh tế, một trong những ưu tiên bậc nhất trong các vấn đề kinh tế.

5. Chủ nghĩa Keynes tiến hóa

Mặc cho các ý tưởng của Keynes được công nhận rộng rãi khi ông còn sống, vẫn có các nhà tư tưởng cùng thời khác chỉ trích các quan điểm trên. Đáng chú ý là lập luận của Trường phái Kinh tế học Áo, những người theo tư tưởng này tin rằng các cuộc suy thoái và bùng nổ kinh tế nằm trong quy luật tự nhiên và sự can thiệp của chính phủ chỉ làm tồi tệ đi quá trình hồi phục.

Kinh tế học Keynes đã chi phối các lý thuyết và chính sách kinh tế từ sau Thế chiến Thứ Hai đến những năm 70 thế kỉ trước, khi nhiều nền kinh tế tiên tiến phải hứng chịu cả lạm phát cao lẫn tốc độ tăng trưởng chậm, được gọi là tình trạng “đình lạm”. Sự phổ biến của học thuyết Keynes suy yếu bởi nó không thể cung cấp một giải pháp cho tình trạng này. Các nhà kinh tế học theo chủ nghĩa tiền tệ nghi ngờ khả năng chính phủ có thể điều chỉnh chu kỳ kinh tế thông qua các chính sách tài khóa và lập luận rằng việc sử dụng hợp lý các chính sách tiền tệ , mới có thể kiềm chế cuộc khủng hoảng. Các thành viên của trường phái kinh tế tiền tệ vẫn cho rằng tiền tệ có thể ảnh hưởng đến tổng sản phẩm trong ngắn hạn nhưng tin rằng về lâu dài, chính sách tiền tệ mở rộng chỉ đưa đến lạm phát. Phần lớn các nhà kinh tế theo chủ nghĩa Keynes chấp nhận những phê bình này và bổ sung vào hệ thống tư tưởng một sự kết hợp tốt hơn giữa tầm nhìn ngắn và dài hạn cũng như sự hiểu biết về tính trung lập của tiền tệ về lâu dài – ý kiến cho rằng tiền tệ chỉ tác động tới các biến số danh nghĩa trong kinh tế, như giá cả và tiền công, mà không có ảnh hưởng đến các biến thực, như việc làm và tổng sản phẩm.

Các nhà kinh tế học theo trường phái Keynes lẫn theo chủ nghĩa tiền tệ đều chịu sự xem xét kĩ lưỡng với sự nổi lên của trường phái tân cổ điển vào giữa những năm 70. Trường phái tân cổ điển khẳng định rằng các nhà hoạch định chính sách đều thất bại bởi các các nhân tham gia thị trường có khả năng dự đoán những thay đổi trong chính sách và hành động trước các thay đổi đó. Một thế hệ các nhà kinh tế học Keynes mới nổi vào những năm 70 và 80 lập luận rằng cho dù các cá nhân có dự đoán đúng đi nữa, thị trường vẫn không thể chuyển biến ngay lập tức và do đó chính sách tài khóa vẫn hiệu quả trong ngắn hạn.

Cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2007-2008 đánh dấu sự hồi sinh của chủ nghĩa Keynes. Chủ nghĩa này đóng vai trò nền tảng của các chính sách khắc phục cuộc khủng hoảng thực hiện bởi nhiều chính phủ, trong đó có Mỹ và Anh. Khi cuộc khủng hoảng lan rộng vào năm 2008, giáo sư đại học Harvard N. Gregory Mankiw đăng trên tờ New York Times rằng: Nếu bạn đang tìm kiếm một nhà kinh tế học để hiểu được những vấn đề mà nền kinh tế đang gặp phải, không nghi ngờ gì khi đó là John Maynard Keynes. Mặc dù Keynes đã mất cách đây hơn nửa thế kỉ, những phân tích về suy thoái kinh tế của ông vẫn là nền tảng của kinh tế vĩ mô hiện đại. Keynes viết: Những con người thực dụng, tự tin rằng mình không chịu bất cứ ảnh hưởng tri thức nào, thường là nô lệ của một số nhà kinh tế học quá cố.’ Năm 2008, không một nhà kinh tế học quá cố nào nổi bật hơn Keynes.