1. Khái niệm bản thể luận
Khái niệm bản thể luận là một khái niệm căn bản của triết học, đó là thuật ngữ chỉ rõ quan điểm của con người nhìn nhận thế giới. Bản thể luận cũng là một khung hướng chủ đạo của triết học phương Tây, nghiên cứu các khai niệm về thực tại và bản chất của sự tồn tại, bản thể luận được hình thành nên cơ sở siêu hình học. Một trong những nhà triết học tiêu biểu tiên phong đưa ra quan điểm về bản thể luận phải kể đến là Platon và Democrit.
Nói một cách chung nhất, bản thể luận được hiểu là học thuyết về tồn tại và khái niệm "tồn tại" là một trong các khái niệm cơ bản của triết học phương Tây. Khái niệm này liên hệ mật thiết và hữu cơ với quá trình hình thành triết học phương Tây và chính nó.
Vấn đề tồn tại là vấn đề căn bản nhất mà mỗi một quan niệm về bản thể luận đều phải lý giải, đồng thời việc lý giải ấy cũng tạo nên nội dung chính và đặc thù của bản thể luận nói chung và của mỗi bản thể luận nói riêng. Thực chất của vấn đề là ở chỗ phải lý giải xem cái gì là cái chung của tất cả những cái thực tồn.
2. Chủ nghĩa duy tâm là gì?
Chủ nghĩa duy tâm là trường phái triết học khẳng định rằng mọi thứ đều tồn tại bên trong tâm thức và thuộc về tâm thức.Là một nên ftangr của ngành vũ trụ học. Chủ nghĩa duy tâm khách quan là một trường phái triết học cho rằng: ý thức, tinh thần nói chung như "ý niệm", "ý niệm tuyệt đối", "tinh thần thế giới" là cái tồn tại khác quan bên ngoài con người. Tiêu biểu cho quan điểm này là Platon.
3. Nội dung cơ bản về bản thể luận trong triết học Democrit
Democrit (460-370 TCN) là nhà văn, nhà triết học, tâm lý học, toán học, sinh vật học, vật lý học, mỹ học, ngôn ngữ học, âm nhạc và nhà kỹ thuật. Democrit kiên định lập trường duy vật vô thần. Ông có quan điểm duy vật khi giải quyết vấn đề cơ bản của triết học.
Ông cho rằng, cội nguồn của thế giới là nguyên tử, là vật chất. Ông đã phát triển thuyết nguyên tử của Loxip - người thầy của ông - lên trình độ mới. Theo Democrit bản nguyên của thế giới gồm hai thứ là nguyên tử và chân không. Tất cả mọi vật đều sinh ra từ nguyên tử. Nguyên tử (atomon) là vật chất nhỏ nhất, không nhìn được, không phân chia được, không mùi, không vị, không có âm thanh, màu sắc, không nóng lên, không lạnh đi, không khô, không ướt, không thể bị hủy hoại và do đó là vĩnh cửu. Chúng đồng nhất về chất, chỉ khác nhau về hình thức, trật tự và tư thế (Hình thức: A,B trật tự: 123, 123; tư thế: N - Z. M - W ...). Tính muôn màu muôn vẻ của sự vật được quyết định bởi hình thức cấu tạo, trật tự sắp xếp và tư thế của các nguyên tử khi kết hợp với nhau. Trong "chân không rộng lớn", trong không gian vô tận của vũ trụ, những nguyên tử tự vận động mãi mãi, "rung chuyển về mọi phía"; chúng xô đẩy lẫn nhau và làm thành một cơn lốc nguyên tử lôi cuốn tất cả những nguyên tử ngày càng tươi mới. Vận động không tách rời vật chất, vận động của nguyên tử là tự thân, vĩnh viễn, theo chiều hướng tọa thành những cơn lốc nguyên tử.
Democrit nêu lên ba bước luận chứng để chứng minh nguyên tử và chân không là bản nguyên của thế giới:
Thứ nhất, lấy sự vật có thể cảm giác được làm tiêu chuẩn thì sự vật là có nhiều, vô cùng, vô tận và luôn vận động. Xuất phát từ kinh nghiệm thì chứng ta có thể chia tách các vật tồn tại, do đó giữa các vật phải có khoảng không, và vì có khoảng không thì các sự vật mới có thể sinh thành và biến hóa được.
Thứ hai: Chia tách phải có điều kiện, điều kiện đó chính là chân không. Vì nếu không có chân không thì giữa các vật sẽ không có không gian, nếu không có không gian thì không có mối quan hệ mật thiết với nhau, không tách rời nhau. Tồn tại giải thích nguyên tắc hiện hữu của sự vật, chân không giải thích tính nguyên tắc đa dạng và vấn đề của sự vật.
Thứ ba: nguyên tử là đơn vị nhỏ nhất của tồn tại. Không phải vật nào cũng có thể làm bản nguyên được mà bản nguyên phải tồn tại bất sinh bất diệt. Mọi sự vật đều có thể chia tách nhưng không mất đi vì tồn tại không thể biến thành phi tồn tại. Sự vật có thể bị chia tách nên nó không thể là bản nguyên, nó phải lấy cái không thể chia tách làm bản nguyên. Cái duy nhất không thể chia tách, bất sinh, bất diệt chính là nguyên tử, vì vậy, nguyên tử là bản nguyên của thế giới. Trong quan niệm về vũ trụ của ông cũng không có chỗ cho thần thánh. Trong đó chỉ có những nguyên tử vận động theo những cơn lốc xoáy. Các nguyên tử cùng loại cố kết với nhau làm thành những vòng lớp nguyên tử, càng nặng càng ở gần tâm, càng nhẹ càng ở xa tâm. Đất, nước, lửa, không khí là những vòng ở trung tâm cơn lốc. Từ đó hình thành các hành tinh và trái đất.
Nguyên tử có những đặc tính sau:
- Một là, lúc ban đầu, nguyên tử lưu động khắp nơi theo mọi hướng trong không gian, từ những đơn vi đơn độc, chúng va chạm với nhau gắn kết với nhau mà hợp thành vạn vật.
- Hai là, sự lưu động của nguyên tử được Democrit giải thích là "tính tất nhiên", vì sự lưu động của nguyên tử không theo trật tự nguyên tắc nào cả.
- Ba là, nguyên tử có hình cầu vì "hình cầu là trạng thái vận động dễ dàng nhất.
- Bốn là, vị trí và trật tự sắp xếp các nguyên tử khác nhausex quyết định nên các sự vật khác nhau.
- Năm là, chúng ta không thể quan sát được nguyên tử. Bằng quan niệm này nguyên tử với tư cách bản nguyên thế giới đã được trừu tượng hóa đến cao độ.
Cái ngẫu nhiên là một hiện tượng không có nguyên nhân, là một khái niệm chủ quan che dấu cái ngu dốt của con người. Khi ta biết được cái nguyên nhân của cái ngẫu nhiên thì nó không còn là cái ngẫu nhiên nữa. Thế giới là sự thống nhất giữa "tồn tại" (phần đặc, phần dày) và "Không-tồn tại (phần rỗng, chân không, không gian, hư vô). Không gian có giới hạn. Cảm giác là bước đầu của tri thức, nhưng cảm giác là nhận thức "mờ tối", vì nó không cho ta biết được nguyên tử và chân không. Cần phải có sự tham gia của lý tính vì đó là nhận thức "chân thực", tinh tế và sâu sắc hơn. Lý tính lấy "những dẫn chứng" trong cảm giác. Sự sông phát sinh từ vật thể ẩm ướt nhiệt độ thích hợp. Con người được sinh ra do quá trình phát triển lâu dài của sinh vật thô sơ.
Sinh vật và con người khác với sự vật vì linh hồn. Linh hồn làm cho sinh vật vận động. Linh hồn được cấu tạo bởi nguyên tử hình cầu rất nhỏ, vận động tốc độ lớn. Linh hồn cũng chết như cơ thể. Thần thánh là do con người sáng tạo ra. Mục đích sông của con người là hướng tới tự do, hạnh phúc.
4. Nội dung cơ bản về bản thể luận trong triết học Platon
Platon là nhà triết học duy tâm khách quan lớn nhất thời cổ; là học trò của Xocrat, tham gai vào tổ chức triết học do Xocrat dẫn đầu, ủng hộ phái chủ nô quân chủ, chống lại nền dân chủ chủ nô. Platon đã thành lập ở Aten một viện hàn lâm (trường đại học đầu tiên ở Châu Âu), một trung tâm triết học duy tâm chống lại triết học duy vật của Democit.
Về mặt bản thể luận, theo Platon vũ trụ này có hai thế giới là thế giới ý niệm và thế giới của các sự vật cảm tính là không chân thực, không đúng đắn vì các sự vật không ngừng sinh ra và mất đi, thay đổi và vận động, không ổn định, bền vững, hoàn thiện; còn thế giới ý niệm là thế giới phi cám tính, phi vật thể là, thế giới đúng đắn, chân thực, các sự vật cảm biết chỉ là cái bóng của ý niệm. Theo ông, thế giới của những ý niệm là tồn tại chân thực, vĩnh viễn, tuyệt đối, bất biến, nó là cơ sở tồn tại của thế giới các sự vật cảm tính.
Còn thế giới các sự vật cảm tính là tồn tại không chân thực, phụ thuộc vào các ý niệm, nó là cái bóng của ý niệm. Đứng trên lập trường duy tâm thần bí, ông khẳng định rằng, bản nguyên của thế giới là "thế giới ý niệm", mà ông gọi là "những ý tưởng có trước", một thế giới trừu tượng, bất biến, tĩnh lại, đông lạnh, không có sự sống. Chỉ có chúng mới tồn tại chân thực. Linh hồn là do thánh tạo ra, có động cơ và mục đích rõ ràng. Động cơ và mục đích đã khuyến khích các ý niệm vận động rồi in ấn vào "không tồn tại", "hư vô" - cái mà ông gọi là "vật chất" - theo nhưng "tương quan toán học", những "hòa điệu" khác nhau mà sinh ra giới tự nhiên - "thế giới các sự vật cảm tính" muôn hình, muôn vẻ, xấu, đẹp khác nhau.
Thế giới thứ hai, theo Platon, thế giới các sự vật cảm tính chỉ là sản phẩm của "thế giới ý niệm", chỉ là "cái bóng" của chúng nó là "tồn tại không chân thực". Vì mọi cái trong đó luôn biến đổi, có sinh ra, có mất đi, nó không chỉ là cái bóng của thế giới ý niệm, do thế giới ý niệm quyết định. Ý niệm của Platon như là khuôn mẫu để thế giới các sự vật cảm tính mô phỏng theo.
Từ quan niệm trên Platon đã đưa ra khái niệm "tồn tại" và "không tồn tại". Vấn đề tồn tại (bản thể) chiếm vị trí đặc biệt trong triết học Platon. Tồn tại đích thực phải là tồn tại như thế nào? Đâu là tồn tại khác, hay "cái bóng của tồn tại"?
Cái gì là cơ sở, nền tảng của tồn tại? "theo tôi, - Platon viết - trước tiên cần phải phân biệt cái gì luôn luôn tồn tại và không bao giờ sinh thành và cái gì luôn luôn sinh thành nhưng không bao giời tồn tại". "Tồn tại" theo ông là cái phi vật chất, cái nhận biết được bằng trí tuệ siêu tự nhiên là cái có tính thứ nhất.. Còn "không tồn tại" là vật chất, cái có tính thứ hai so với cái tồn tại phi vật chất. Như vậy, ông có tư tưởng duy tâm khách quan về thế giới, cả hai thế giới này theo ông đều là sản phẩm của thần.
5. Sự đối lập giữa Democrit và Platon về vấn đề bản thể luận
Thông qua nội dung, quan điểm về triết học nói chung và về bản thể luận nói riêng, có thể thấy, quan điểm về triết học nói chung về bản thể luận nói riêng, có thể thấy, quan điểm về triết học nói chung và về bản thể luận nói riêng, có thể thấy, quan điểm của Democrit và Platon là hoàn toàn đối lập nhau.
Một bên theo lập trường duy vật và một bên đứng trên lập trường duy tâm. Cuộc đấu tranh giữa hai đường lối triết học duy tâm thần bí của Platon là cuộc đấu tranh điển hình trong lịch sử triết học.
Democrit đứng trên lập trường duy vật vô thần, ông cho rằng khởi nguyên của thế giới là nguyên tử, là dạng vật chất nhỏ nhất, không thể phân chia được nữa, nó là cơ sở của thế giới, của sự vật, hiện tượng. Nguyên tử không màu không mùi, không vị, không khác nhau về chất, nó chỉ khác nhau về hình dáng, về cấu tạo, về tư thế sắp xếp và các nguyên tử này luôn luôn vận động trong chân không. Các sự vật hiện tượng khác nhau là do sự liên kết giữa các nguyên tử có hình dáng khác nhau, tư thế khác nhau, cấu tạo khác nhau. Các nguyên tử vận động không ngừng và chính sự đa dạng của các nguyên tử tạo nên sự đa dạng của thế giới sự vật và sự hình thành của vũ trụ.
Democrit là đại biểu xuất sắc của chủ nghĩa duy vật cổ đại. Thuyết nguyên tử là cống hiến nổi bật của ông đối với chủ nghĩa duy vật. Ngoài ra ông còn có nheieuf ý kiến đóng góp quý giá về lý luận nhận thức. Triết học của ông thể hiện tinh thần của giới chủ nô dân chủ có tư tưởng cấp tiến trong triết học Hy Lạp cổ đại.
Hầu hết các tác phẩm của ông đã bị tiêu hủy, các tư tưởng của ông đều được biết thông qua các nhà tư tưởng khác. Đối lập với Democrit, Platon đứng trên lập trường duy tâm khẳng định rằng bản nguyên của thế giới là "thế giới ý niệm", thế giới ý niệm tồn tại một cách chân thật, vĩnh cửu và bất biến. Ông chia thế giới thành hai bộ phận là thế giới ý niệm và thế giới vật cảm tính. Thế giới ý niệm là thế giới có trước và sinh ra thế giới vật cảm tính. Thế giới vật cảm tính là thế giới không chân thật, không đúng đắn và luôn luôn thay đổi, là thế giới có sau và là cái bóng của thế giới ý niệm. Chính sự triệt để và quyết liệt của sự đấu tranh trong vấn đề về bản thể luận giữa hai nhà triết học thời kỳ Hy Lạp cổ đại là cơ sở cho sự đối lập về những vấn đề khác trong triết học cơ bản như quan điểm về sự sống của con người, về vận động.
Trong quan niệm về sự sống và con người, Democrit cho rằng: Sự sống và con người, theo ông là kết quả tất yếu của tự nhiên phát triển từ thấp đến cao: từ sự vật tới sinh vật, từ sinh vật tới con người. Con người có linh hồn còn sự vật không có linh hồn. Linh hồn của con người được cấu tạo từ những nguyên tử hình cầu, giống như những nguyên tử lửa vận động với tốc độ lớn. Linh hồn mất đi cùng với sự chết của con người. Như vậy, ông đã bỏ thuyết linh hồn bất tử của tôn giáo, chủ nghĩa duy tâm khách quan của Platon. Platon lại cho rằng: Bàn về sự sống của con người, Platon đưa ra thuyết linh hồn bất tử. Cơ thể con người do nước, lửa, không khí và đất tạo ra, còn linh hồn do thần thánh ban nên bất tử. Nô lệ, theo ông không phải là con người chỉ là công cụ biết nói, không có linh hồn.
Và quan điểm về vận động, tuy Democrit chưa tìm ra nguyên nhân của sự vật và ông còn tách không gian ("không tồn tại") ra khỏi sự vật, nhưng ông đã cố gắng giải thích sự vận động gắn với vật chất, vận động có động cơ tự thân của nguyên tử, còn không gian là điều kiện của vận động.
Trong khi đó, Platon đã tìm ra nguyên nhân của sự vận động ở lực lượng tinh thần, ở "thần tình ái"' và ở linh hồn: Linh hồn thế giới làm cho vũ trụ vận động, còn linh hồn riêng biệt làm cho sự vật vận động. Platon đưa ra thuyết mục đích luận, cho rằng mọi sự vật được tạo ra phục thuộc vào mục đích của thần thánh.