1. Khái quát về hệ thống cơ quan công tố ở Hàn Quốc

Hệ thống công tố hiện đại lần đầu tiên xuất hiện trong lịch sử Hàn Quốc là vào năm 1895 với việc ban hành Luật tổ chức Toà án và Sắc lệnh của Hoàng Gia về tổ chức cơ quan công tố. Các công tố viên vào thời điểm này là thành viên của Toà án nhưng thực hiện nhiệm vụ điều tra và truy tố trên cơ sở thẩm quyền và trách nhiệm độc lập. Phân loại về chuyên môn của công tố viên cũng theo những đạo luật này được quy định rất chặt chẽ như hệ thống hiện hành và tiếp tục tồn tại cho đến khi kết thúc triều đại Chosun khi Nhật Bản xâm lược và sát nhập quốc gia này vào Đế quốc Nhật.

Sau khi giải phóng thuộc địa khỏi tay phát xít Nhật năm 1945, Chính phủ Hàn Quốc đã bắt tay vào thành lập một hệ thống tư pháp hiện đại bao gồm cả việc ban hành Luật về Viện công tố 1949, theo đó thành lập một tổ chức công tố độc lập với hệ thống Toà án.

Khung pháp lý cơ bản của Luật tố tụng hình sự Hàn Quốc được hoàn thành vào năm 1945 bằng việc ban hành Bộ luật tố tụng hình sự theo đó tạo ra một cấu trúc điều tra và xét xử đơn nhất bằng việc tiếp nhận một số đặc trưng của hệ thống xét xử Anglo-Saxon thể hiện ở khía cạnh công tố viên tham gia vào quá trình này như một bên tranh tụng chống lại bị cáo.

Hiện nay, hệ thống cơ quan công tố Hàn Quốc được tổ chức theo mô hình Kim tự tháp trong đó bao gồm: Viện công tố tối cao (SPPO), 5 Viện công tố cấp cao (HPPO), 13 Viện công tố cấp quận (DPPO) và 42 Văn phòng chi nhánh của Viện công tố quận.

Các Công tố viên được phân chia thành 4 cấp theo chức trách chuyên môn của mình: Tổng trưởng công tố (PG), Công tố viên trưởng cấp cao (SPC), Công tố viên trưởng (PC) và Công tố viên. Mỗi vị trí được bổ nhiệm bằng một quyết định tương ứng với cấp bậc.

Hệ thống cấp bậc của Công tố viên được phân chia theo cấp bậc của các quan chức Chính phủ khi mà họ có được những quy chế ưu đãi và tôn trọng đặc biệt bao gồm cả việc được bồi thường và chế độ đảm bảo nghiêm ngặt về công tác v.v…giống như chế độ đối với các Thẩm phán.

Địa vị của Tổng trưởng công tố tương đương với Bộ trưởng trong Nội các, Công tố viên trưởng có địa vị ngang hàng Thứ trưởng và Công tố viên cao cấp có vị trí ở giữa hai cấp bậc này. Các Công tố viên được phân ở cấp thứ ba theo năng lực chuyên môn của họ.

2. Cơ cấu, tổ chức của hệ thống cơ quan công tố ở Hàn Quốc

2.1. Viện công tố tối cao

Viện công tố tối cao (SPPO) là cơ quan đầu não của tất cả mọi hoạt động công tố có trách nhiệm thiết lập và thực thi những chính sách cơ bản về chức năng, nhiệm vụ của Công tố viên, hướng dẫn, giám sát và hỗ trợ tất cả các Viện công tố trên toàn quốc. Viện công tố tối cao cũng có trách nhiệm trong các công việc công tố liên quan đến xét xử tại Toà án tối cao.

Tổng trưởng công tố là người đứng đầu của tất cả các Công tố viên, có trách nhiệm chỉ huy và chịu trách nhiệm về tất cả những vấn đề liên quan đến công tố. Một Phó Tổng trưởng công tố có nhiệm vụ giúp việc cho Tổng trưởng công tố tại Viện công tố tối cao. Phó Tổng trưởng công tố được bổ nhiệm trong số các Công tố viên cao cấp.

Viện công tố tối cao có 9 Cục, Vụ bao gồm: Vụ kế hoạch và điều phối công tác; Cục điều tra trung ương; Cục hình sự; Cục các tội phạm bạo lực; Cục điều tra ma tuý; Vụ an ninh công cộng; Vụ xét xử hình sự và dân sự; Vụ Thanh tra và Tổng cục hành chính. Mỗi Cục, Vụ lại có các ban thực hiện công việc chuyên môn riêng biệt.

Tổng giám đốc của các Cục, Vụ được bổ nhiệm trong số các Công tố viên trưởng và các giám đốc thuộc quyền của họ được chọn ra từ những Công tố viên có nhiều kinh nghiệm, những người được biết đến với chức danh Công tố viên cao cấp.

2.2. Viện công tố cấp cao (HPPO)

Viện công tố cấp cao được thành lập tại 5 thành phố lớn nhất là Seoul, Taejon, Taegu, Pusan và Kwangju. Viện công tố cấp cao thực hiện những nhiệm vụ chủ yếu sau:

+ Giám sát các Viện công tố quận trong phạm vi địa bàn của mình.

+ Duy trì quyền công tố liên quan đến những vụ án mà các bên chống án lên Toà án cấp cao.

+ Thực hiện hoặc hướng dẫn những hoạt động của các cơ quan khác liên quan đến những vụ kiện mà chính quyền trung ương hay địa phương là một bên trong vụ án.

Một chức năng đặc trưng của Viện công tố cấp cao như một phần của thẩm quyền giám sát đối với Viện công tố cấp quận là xem xét lại những vụ án không được các Công tố viên của quận đưa ra truy tố mà bị nguyên đơn, người đã đưa ra lời cáo buộc kẻ bị tình nghi khiếu nại.

Các Công tố viên của Viện công tố cấp cao có thể ra lệnh cho Viện công tố quận điều tra lại vụ án hoặc Viện công tố cấp cao có thể quyết định buộc tội kẻ bị tình nghi khi có những sai lầm nghiêm trọng hoặc không phù hợp trong quá trình điều tra có liên quan bị phát hiện và điều này làm ảnh hưởng đến quyết định trước đó.

2.3. Viện công tố quận

Viện công tố quận được đặt tại thủ phủ của 4 thành phố chính và 9 tỉnh và dưới đó là các chi nhánh thực hiện các chức năng tư pháp trong phạm vi 3 hay 4 huyện nhỏ nhằm mục đích tạo thuận lợi cho mọi công dân.

Viện công tố quận thường có một vài phòng có trách nhiệm trong một lĩnh vực nhất định để tăng cường tính hiệu quả và chuyên môn của các cuộc điều tra, số lượng và nhân sự của các phòng này là khác nhau phụ thuộc vào số dân trong phạm vi thẩm quyền tư pháp của nó.

Các phòng của Viện công tố cấp quận do các giám đốc, người có đủ kinh nghiệm trong công tác công tố lãnh đạo. Họ thường được gọi là Công tố viên cấp cao và có quyền đưa ra các hướng dẫn và giám sát đối với Công tố viên cấp dưới và các thư ký.

Tên của các phòng và nhiệm vụ của chúng được phân chia như sau:

Phòng hình sự: Quyết định và điều tra bổ sung liên quan đến những vụ án do cảnh sát báo cáo lên và đưa ra những hướng dẫn cho cảnh sát về việc điều tra.

Phòng điều tra đặc biệt: Phát hiện và tiến hành điều tra ban đầu đối với những tội phạm nghiêm trọng có thể gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến công lý công cộng bao gồm các tội phạm tham nhũng, tội phạm kinh tế, tội phạm cổ cồn trắng…

Phòng các tội phạm bạo lực: Có nhiệm vụ đấu tranh chống các tội phạm bạo hành như tội phạm có tổ chức, buôn lậu người và ma tuý v.v…

Phòng an ninh công cộng: Có nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia, an ninh công cộng và nền dân chủ bằng việc ngăn ngừa và kiểm soát các hoạt động do thám, các hành vi gây rối loạn trật tự công cộng, những hành vi xâm phạm đến luật lao động, luật bầu cử v.v…

Phòng án khởi tố theo yêu cầu bị hại: Điều tra chuyên sâu và ở cấp độ rộng những vụ án có tính chất phức tạp do các nạn nhân đệ trình lên mà những vụ án này cần phải được Công tố viên giải quyết đầu tiên một cách công bằng.

Phòng xét xử: Thực hiện các hoạt động tại Toà án, thi hành các bản án và những vấn đề khác liên quan đến xét xử hình sự.

Thêm vào đó, để đối phó với khuynh hướng phát triển của tội phạm hiện nay đang gia tăng với tốc độ nhanh chóng và thay đổi phức tạp, mang tính chất xuyên quốc gia, cơ quan công tố Hàn Quốc cũng đã thành lập thêm một số phòng nghiệp vụ chuyên môn trong nhiều lĩnh vực khác nhau bao gồm những phòng như: Phòng xử lý tội phạm vị thành niên, Phòng đối ngoại và Phòng tội phạm tin học v.v…

3. Nguyên tắc cơ bản trong hoạt động của tổ chức cơ quan công tố

Tất cả Công tố viên ở Hàn Quốc là bộ phận cấu thành của một tổ chức có thứ bậc nghiêm ngặt, thực hiện nhiệm vụ của mình trong 1 tổng thể dưới sự hướng dẫn và giám sát của Tổng trưởng công tố. Họ có nghĩa vụ tuân thủ những mệnh lệnh của cấp trên, đó là nguyên tắc gọi là: “Nguyên tắc đồng nhất của Công tố viên”.

Nguyên tắc này nhằm mục đích cân bằng giữa hai bản chất có tính xung đột về địa vị của Công tố viên, một mặt thuộc nhánh hành pháp, phải tuân thủ thẩm quyền quản lý của Tổng thống, mặt khác cũng thuộc về cái gọi là nhân viên bán tư pháp, những người mà tính độc lập về chuyên môn phải được bảo đảm. Do đó, nguyên tắc này có khả năng đối xử bình đẳng với tất cả các công dân trên cả nước bằng cách đặt ra 4 tiêu chuẩn đồng nhất trong việc giải quyết các vụ án với cùng một bản chất.

Do Viện công tố ở Hàn Quốc gắn liền với Bộ Tư pháp nên Bộ trưởng Tư pháp có toàn quyền giám sát công tác công tố với tư cách là cấp giám sát cao nhất.

Tuy nhiên, để củng cố và duy trì tối đa quyền độc lập của cá nhân Công tố viên với tư cách là những nhân viên bán tư pháp, thẩm quyền giám sát đối với từng cá nhân Công tố viên của Bộ trưởng Tư pháp bị hạn chế nghiêm ngặt và chỉ được giám sát những vấn đề chung mà thôi. Liên quan đến từng vụ án cụ thể, Bộ trưởng chỉ có thể chỉ đạo Tổng trưởng công tố và Tổng trưởng công tố lại có quyền tự quyết định xem liệu có truyền đạt ý kiến của Bộ trưởng Tư pháp đến Công tố viên có trách nhiệm trong vụ án đó hay không.

4. Nguồn nhân lực của Viện công tố Hàn Quốc

Tính đến tháng 8 năm 2001, tổng số Công tố viên ở Hàn Quốc tăng lên theo từng năm, ước tính khoảng 1200 người được một đội ngũ gồm 6300 nhân viên giúp việc bao gồm các điều tra viên, thư ký hành chính và các thư ký.

Số lượng Công tố viên là nữ cũng gia tăng một cách đáng kể, vượt quá 50 người tính đến năm 2001.

5. Về tiêu chuẩn và chế độ bảo đảm của Công tố viên

Công tố viên được lựa chọn và bổ nhiệm trong số những người có tiêu chuẩn như Luật sư bằng cách vượt qua kỳ thi tốt nghiệp của khoá đào tạo 2 năm trong Học viện nghiên cứu và đào tạo tư pháp sau khi đã vượt qua kỳ thi quốc gia của Hiệp hội Luật sư quốc gia và chứng minh được năng lực chuyên môn của mình cũng như những tiêu chuẩn cá nhân được kiểm tra thông qua một quá trình tuyển lựa thận trọng.

Địa vị chuyên môn của Công tố viên được pháp luật đảm bảo và bảo vệ nghiêm ngặt. Họ sẽ không bị buộc thôi việc, đình chỉ công tác hay giảm mức lương trừ khi bị nghi ngờ, buộc tội và bị trừng phạt nặng hơn hình phạt giam giữ hay bỏ tù hoặc phải chịu hình thức kỷ luật nghiêm khắc bằng những quy định pháp luật trong các đạo luật khác.

Nhìn chung, khối lượng công việc của các Công tố viên đều gia tăng hàng năm. Năm 2000, một Công tố viên giải quyết án trung bình riêng trong lĩnh vực điều tra ước tính khoảng 12 kẻ bị tình nghi một ngày.

Ngoài công tác điều tra, các Công tố viên còn giành một khoảng thời gian đáng kể để xem xét lại những án lệnh và đưa ra các hướng dẫn cho cảnh sát liên quan đến quá trình buộc tội của vụ án.

Ngoài tổng số án đã được thụ lý, tỷ lệ án truy tố mà Công tố viên phải quyết định là sẽ áp dụng thủ tục thông thường hay rút gọn đại khái khoảng 50% và ước tính khoảng 99.9% số bị cáo bị đưa ra truy tố được Toà án tuyên có tội.