1. Trường hợp giảm tạm ứng án phí, án phí, tạm ứng lệ phí Tòa án, lệ phí Tòa án
Người gặp sự kiện bất khả kháng dẫn đến không có đủ tài sản để nộp tạm ứng án phí, án phí, tạm ứng lệ phí Tòa án, lệ phí Tòa án có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó cư trú thì được Tòa án giảm 50% mức tạm ứng án phí, án phí, tạm ứng lệ phí Tòa án, lệ phí Tòa án mà người đó phải nộp.
Những người thuộc trường hợp quy định trên vẫn phải chịu toàn bộ án phí, lệ phí Tòa án khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:
- Có căn cứ chứng minh người được giảm tạm ứng án phí, án phí, tạm ứng lệ phí Tòa án, lệ phí Tòa án không phải là người gặp sự kiện bất khả kháng dẫn đến không có tài sản để nộp tiền tạm ứng án phí, án phí, tạm ứng lệ phí Tòa án, lệ phí Tòa án;
- Theo bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án thì họ có tài sản để nộp toàn bộ tiền án phí, lệ phí Tòa án mà họ phải chịu.
- Trường hợp các đương sự thỏa thuận một bên chịu toàn bộ án phí hoặc một phần số tiền án phí phải nộp mà bên chịu toàn bộ án phí hoặc một phần số tiền án phí phải nộp thuộc trường hợp được giảm tiền án phí thì Tòa án chỉ giảm 50% đối với phần án phí mà người thuộc trường hợp được giảm tiền án phí phải chịu theo quy định của Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14. Phần án phí, lệ phí Tòa án mà người đó nhận nộp thay người khác thì không được giảm.
2. Không nộp tạm ứng án phí thì Tòa án có thụ lý vụ án?
Căn cứ theo quy định tại khoản 3 và khoản 4 Điều 195 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 quy định rằng: Thẩm phán thụ lý vụ án tranh chấp đất đai khi người khởi kiện nộp biên lai thu tiền tạm ứng án phí cho Tòa án.
Tại Khoản 1 Điều 146 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 có quy định như sau:
Nguyên đơn, bị đơn có yêu cầu phản tố đối với nguyên đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập trong vụ án dân sự phải nộp tiền tạm ứng án phí sơ thẩm, người kháng cáo theo thủ tục phúc thẩm phải nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm, trừ trường hợp được miễn hoặc không phải nộp tiền tạm ứng án phí.
Đồng thời, theo như thủ tục thụ lý vụ án tại Điều 195 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 thì:
- Sau khi nhận đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo, nếu xét thấy vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án thì Thẩm phán phải thông báo ngay cho người khởi kiện biết để họ đến Tòa án làm thủ tục nộp tiền tạm ứng án phí trong trường hợp họ phải nộp tiền tạm ứng án phí.
- Thẩm phán dự tính số tiền tạm ứng án phí, ghi vào giấy báo và giao cho người khởi kiện để họ nộp tiền tạm ứng án phí. Trong thời hạn 07 ngày, kể từ ngày nhận được giấy báo của Tòa án về việc nộp tiền tạm ứng án phí, người khởi kiện phải nộp tiền tạm ứng án phí và nộp cho Tòa án biên lai thu tiền tạm ứng án phí.
- Thẩm phán thụ lý vụ án khi người khởi kiện nộp cho Tòa án biên lai thu tiền tạm ứng án phí.
- Trường hợp được miễn hoặc không phải nộp tiền tạm ứng án phí thì Thẩm phán phải thụ lý vụ án khi nhận được hồ sơ khởi kiện (đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo).
Như vậy, đối với trường hợp không được miễn hoặc không thuộc trường hợp không phải nộp tiền tạm ứng án phí thì Thẩm phán chỉ thụ lý vụ án khi người khởi kiện nộp biên lai thu tiền tạm ứng án phí cho Tòa án. Hay nói cách khác, người khởi kiện không nộp tạm ứng án phí thì Tòa án sẽ không thụ lý vụ án.
3. Quyền khởi kiện lại khi bị đình chỉ giải quyết vụ án do không nộp tạm ứng chi phí định giá tài sản
Căn cứ theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định về việc Tòa án đình chỉ giải quyết vụ án khi nguyên đơn không nộp tiền tạm ứng chi phí định giá tài sản và chi phí tố tụng khác là quy định mới so với trước đây nhằm khắc phục tình trạng khi giải quyết vụ án, đương sự có yêu cầu định giá tài sản, giám định nhưng đương sự lại không chịu nộp tạm ứng chi phí định giá tài sản và chi phí tố tụng khác. Bộ luật Tố tụng dân sự hiện hành quy định bắt buộc nguyên đơn phải nộp tiền tạm ứng chi phí định giá tài sản, tạm ứng chi phí giám định trong trường hợp Tòa án ra quyết định định giá tài sản (khoản 3 Điều 164), giám định (khoản 2 Điều 160) và hậu quả pháp lý của việc nguyên đơn không nộp tiền tạm ứng các chi phí là Tòa án đình chỉ giải quyết vụ án.
Tại Mục 5 Phần IV Công văn số 02/TANDTC-PC ngày 02/8/2021 của Tòa án nhân dân tối cao giải đáp một số vướng mắc trong xét xử (Công văn số 02/2021) hướng dẫn:
Theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 217 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 thì:
- Sau khi thụ lý vụ án thuộc thẩm quyền của mình, Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự trong các trường hợp sau đây:
+ Nguyên đơn không nộp tiền tạm ứng chi phí định giá tài sản và chi phí tố tụng khác theo quy định của Bộ luật này…
Khoản 1 Điều 218 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định: “Khi có quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự, đương sự không có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết lại vụ án dân sự đó, nếu việc khởi kiện vụ án sau không có gì khác với vụ án trước về nguyên đơn, bị đơn và quan hệ pháp luật có tranh chấp, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 192, điểm c khoản 1 Điều 217 của Bộ luật này và các trường hợp khác theo quy định của pháp luật…”.
Như vậy, theo các quy định nêu trên thì trường hợp Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự vì lý do “nguyên đơn không nộp tiền tạm ứng chi phí định giá tài sản và chi phí tố tụng khác” thì nguyên đơn không có quyền khởi kiện lại để yêu cầu Tòa giải quyết tiếp vụ án như đối với trường hợp rút đơn khởi kiện.
Khi khởi kiện, nếu chưa đủ tiền để nộp tạm ứng án phí mà không thuộc trường hợp được miễn, giảm án phí thì người khởi kiện sẽ bị trả đơn khởi kiện theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 192 Bộ luật Tố dụng Dân sự năm 2015. Pháp luật không có quy định đương sự được miễn, giảm tiền tạm ứng chi phí định giá tài sản và chi phí tố tụng khác, điều này dẫn đến sự thiếu công bằng cho những người yếu thế, người có hoàn cảnh khó khăn tại thời điểm họ đang cần được Tòa án bảo vệ. Theo tác giả, cần có quy định theo hướng miễn đóng tiền tạm ứng chi phí định giá tài sản và chi phí tố tụng khác cho các đối tượng là người yếu thế trong xã hội hoặc trong hoàn cảnh đặc biệt khó khăn.
Trong nhiều trường hợp, việc không được khởi kiện lại vì không nộp tiền tạm ứng chi phí định giá tài sản và chi phí tố tụng khác không chỉ xâm phạm quyền khởi kiện mà còn làm mất quyền về tài sản của công dân được pháp luật bảo hộ và gây ra những hệ quả xấu cho xã hội, trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự và tố tụng dân sự Việt Nam.
Như vậy, quyền khởi kiện của công dân phải được bảo đảm, việc chấp nhận cho đương sự được khởi kiện lại khi Tòa án đình chỉ giải quyết vụ án theo điểm đ khoản 1 Điều 217 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 là bảo đảm quyền con người, quyền công dân được ghi nhận trong Hiến pháp 2013, pháp luật và các công ước quốc tế.
Xem thêm: Nghĩa vụ nộp tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm, án phí phúc thẩm
Như vậy trên đây là toàn bộ thông tin về Không nộp tạm ứng án phí thì Tòa án có thụ lý vụ án? mà Công ty Luật Minh Khuê muốn gửi đến quý khách mang tính tham khảo. Nếu quý khách còn vướng mắc về vấn đề trên hoặc mọi vấn đề pháp lý khác, quý khách hãy vui lòng liên hệ trực tiếp với chúng tôi qua Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến theo số điện thoại 19006162 để được Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài kịp thời hỗ trợ và giải đáp mọi thắc mắc.
Nếu quý khách cần báo giá dịch vụ pháp lý thì quý khách có thể gửi yêu cầu báo phí dịch vụ đến địa chỉ email: lienhe@luatminhkhue.vn để nhận được thông tin sớm nhất! Rất mong nhận được sự hợp tác và tin tưởng của quý khách! Luật Minh Khuê xin trân trọng cảm ơn!