Kinh CÔRAN là bộ kinh tối cao của đạo Hồi, là căn cứ lập pháp cuối cùng của các quốc gia Hồi giáo, là bản “Hiến pháp vĩnh cửu", đồng thời, cũng là chuẩn mực tỉnh thần, đạo đức, luân lí của các tín đồ đạo Hồi.

Dù là về mặt giáo lí, giáo quy hay pháp luật, Kinh Coran đều có uy quyền tuyệt đối. : Đao Hồi, tiếng Arập là “Islam'”, có nghĩa là “frao mình cho thánh”, tức là tuân theo Thánh Ala (Allah) tối cao và duy nhất, tuân theo vị sứ giả của Thánh Ala là Muhammat (Muhammad). Đạo Hồi đến nay tồn tai đã 1.300 năm và có trên 800 triệu tín đồ, ở hơn 90 nước trên thế giới có tín đồ đạo Hồi, trong đó, có 26 nước có số tín đồ chiếm trên 90% dân số và hơn 40% quốc gia lấy đạo Hồi làm quốc giáo. Người sáng lập đạo Hồi vào đầu thế kỉ VII là giáo chủ Muhammat. Trước đó, người Arập sống còn rất lạc hậu, sức sản xuất rất thấp, xã hội hỗn loạn, cướp bóc, xâu xé lẫn nhau về tín ngưỡng, người Arập theo chủ nghĩa đa thần. Dần dần về sau, thương nghiệp phát triển, sự phân hoá giai cấp xuất hiện, trong nội bộ các thị tộc, bộ lạc xuất hiện người giàu - kẻ nghèo; người nghèo bị bóc lột tàn nhẫn, trong đó, thành Mecca buôn bán sầm uất, trở thành một trung tâm thương mại lớn. Nguyện vọng chung của người dân là bỏ qua thời kì mông muội, chấm dứt loạn lạc; các thương đội tranh giành, cướp phá lẫn nhau hỉ vọng tiến tới sự thống nhất về chính trị. Đạo Hồi ra đời chính là tác phẩm của thời kì quá độ từ chế độ thị tộc sang xã hội có giai cấp, của sự đổi mới về kinh tế và xã hội. Chính lúc đó, Muhammat - một cậu bé con nhà nghèo, không được học hành, cắp sách đến trường, chăn dê và làm người dẫn đường cho các đội buôn nhưng nhờ đầu óc thông tuệ, trí lực khác thường và có tấm lòng nhân ái, hào hiệp, đức độ, khoan dung đã trở thành người sáng lập đạo Hồi, phất ngọn cờ thống nhất bán đảo Arập bằng một tôn giáo lớn. Mác, Ăngghen xem công việc của Muhammat đã làm là một “cuộc cách mạng tôn giáo của Muhammaf'.

Kinh Côran (Coran hay Kuran hoặc Quran), là dịch từ tiếng Arập, có nghĩa là tụng niệm, truyền giảng. Theo truyền thuyết, kinh Côran là lời phán quyết lịch sử văn học Arập, kinh Côran còn được xem là tác phẩm văn hoá đổ sộ có ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống tinh thần các dân tộc Arập.

Bộ kinh gồm 30 quyển, 114 chương, 6236 tiết chia thành 2 phần: phần thứ nhất gồm 81 chương 4780 tiết, phần thứ hai gồm các chương, tiết còn lại. Các chương phần thứ nhất gọi là chương Mecca - về thời gian Muhammat truyền giảng ở Mecca, phần thứ hai - các chương Mêđïn (Medina) về thời gian Muhammat chuyển sang truyền giảng ở Mêđin. Nét đặc trưng tiêu biểu của kinh Côran và của pháp luật Hồi giáo nói chung là sự hoà kết thần quyền với thế quyền gồm những lời truyền giáo, những luật lệ, những quy định về lễ nghi thờ cúng, những lời niềm chú và cầu nguyện, những truyện giáo huấn và ngụ ngôn. Kinh Côran phê phán ngẫu tượng giáo, đa thần giáo, tuyên truyền về một đấng tối cao duy nhất là Thánh Ala, khẳng định quyền tư hữu tài sản, quan hệ bất bình đẳng giữa người giàu và người nghèo, giữa nam giới với nữ giới, xem đó như là ý của Thánh Ala và còn nói đến việc cấm ruợu chè, cờ bạc, ăn thịt lợn và thịt các loài súc vật chết hoặc những quy định pháp luật dân sự, hình sự về các tội giết người, trộm cắp, kết hôn, li hôn, thừa kế tài sản, phóng thích nô lệ...

Hồi giáo sơ khai xuất phát từ chỗ thần quyền và quyền lực thế tục đều thuộc về nhà tiên trí Muhammat và sau khi ông mất, những người kế tục đầu tiên vẫn thực hiện quyền lực tối cao như vậy thì sau một số thế hệ, quyền lực thực tế đã chuyển cho các quốc vương quý tộc - Xuntan. Các ông vua tuyên bố mình là người trực tiếp thể hiện ý nguyện của Thánh Ala và khẳng định việc phục tùng họ là trách nhiệm tôn giáo của mỗi tín đồ Hồi giáo và kinh Côran đã xác định rõ điều đó: Thánh Ala với thiên sứ của người, cai quản nhân loại theo ý thượng đế và đòi hỏi các tín đồ phải: tuân theo Ala và thiên sứ của người cùng những người có quyền lực trong chúng của Thánh Ala lưu giữ ở trên bảy tầng mây được thiên thần Gabrien truyền đạt lại cho sứ giả cao cả Muhammat, thực chất là kết quả của lời truyền giảng trong suốt 23 năm của Muhammat, bắt đầu từ năm ông 39 tuổi cho đến năm Muhammat mất, năm 609, cứ mỗi lần truyền giảng, các đệ tử ghi chép lời ông và dần dần tổng hợp lại mà thành. Sau khi ông mất, các đệ tử thu thập, chỉnh lí lại thành bộ kinh. Trong ta và còn chỉ rõ rằng thánh thần nâng cao “một số để được số khác thấp hơn phục dịch". Ngày nay, nhiều quốc gia Arập vẫn còn xem Kinh Côran như là bản hiến pháp bất tử của dân tộc mình.