1. Khái quát chung về Luật sư

Thực tế khách quan của một quốc gia đang không ngừng phát triển, của một đất nước luôn hướng đến nền dân chủ vững mạnh và của một dân tộc ngày càng vươn mình ra với bè bạn năm châu, thì sứ mệnh bảo vệ công lý, đảm bảo công bằng xã hội được đề cao là tất yếu và chính đáng.

Không có giai đoạn nào trong lịch sử phát triển của đất nước trước đây, vị thế và vai trò của nghề luật sư lại được coi trọng như hiện nay. Có thể nói, đây là thời điểm mà xã hội Việt Nam đã dần nhìn nhận sát gần hơn đối với vai trò của nghề luật sư theo đúng chỗ đứng mà nghề này xứng đáng có được. Người dân ngày càng tìm đến luật sư ngày một phát triển, nền tư pháp nước nhà đã tạo điều kiện nhiều hơn để luật sư thể hiện tầm quan trọng của mình.

 

2. Luật sư và nghề luật sư

Trong các nhà nước pháp quyền hiện nay, quyền bào chữa và quyền được bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp là một trong những quyền cơ bản của công dân, quyền đó thường được thể hiện ngay trong Hiến pháp và được cụ thể hóa trong các văn bản luật rằng: công dân có thể tự bào chữa, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình trước Tòa án. Từ việc nhờ người khác bào chữa, luật sư và nghề luật sư xuất hiện để đáp ứng nhu cầu được bào chữa, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân.

Điều 2 Luật luật sư 2006 quy định: Luật sư là người có đủ tiêu chuẩn, điều kiện hành nghề theo quy định của Luật luật sư, thực hiện dịch vụ pháp lý theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức. Tiêu chuẩn luật sư được quy định tại Điều 10 Luật luật sư như sau: "Công dân trung thành với Tổ quốc, tuân thủ Hiến pháp và pháp luật, có phẩm chất đạo đức tốt, có bằng cử nhân Luật, đã được đào tạo nghề Luật sư, đã qua thời gian tập sự hành nghề luật sư, có sức khỏe bảo đảm hành nghề luật sư thì có thể trở thành Luật sư. Lưu ý rằng, người có đủ tiêu chuẩn quy định tại Điều 10 của Luật luật sư muốn được hành nghề luật sư phải có chứng chỉ hành nghề luật sư và gia nhập một Đoàn luật sư. 

 

3. Làm Luật sư có giàu không? Hoạt động hành nghề của Luật sư?

Luật sư là một nghề cao quý, hướng tới bảo vệ công bằng, lẽ phải. Để trả lời cho câu hỏi Làm luật sư có giàu được không, thu nhập của luật sư hiện nay là bao nhiêu thì chúng ta đi tìm hiểu sâu hơn về các hoạt động hành nghề của luật sư để xác định Luật sư làm những công việc gì để kiếm tiền nhé  

Hoạt động hành nghề luật sư được quy định tại Điều 22 Luật luật sư 2006 với các phạm vi hành nghề cụ thể. Theo nguyên tắc hoạt động Ls phải tuân thủ pháp luật, điều kiện đầu tiên là phải có giấy phép hoạt động (được ghi rõ theo từng loại hình tổ chức hành nghề). Ngoài ra, tùy theo lĩnh vực hành nghề, chẳng hạn lĩnh vực sở hữu công nghiệp (sở hữu trí tuệ) mang tính đặc thù nên cần phải có Giấy phép hoạt động tiêng, hoặc đối với các tổ chức hành nghề luật sư nước ngoài, giấy phép hoạt động sẽ được ghi rõ các loại hình dịch vụ pháp lý không được phép thực hiện, trong đó có hoạt động trực tiếp tham gia bào chữa hoặc đại diện cho khách hàng trước Tòa án Việt Nam.

 

3.1 Hoạt động tham gia tố tụng

Cùng với nhiệm vụ đấu tranh phòng, chống tội phạm, trong cơ chế giải quyết các tranh chấp, bất công giữa các chủ thể trong xã hội, Tòa án được coi là có vị trí trung tâm, thực hiện quyền tư pháp, phân định đúng sai, làm cơ sở cho việc tôn trọng và tuân thủ pháp luật. Ngoài ra, các thiết chế trọng tài phi chính phủ, cơ chế hòa giải trong thương mại và dân sự đang được vận hành và tổ chức ngày càng đa dạng. Ls tham gia tố tụng với tư cách là người đại diện hoặc là người bảo vệ quyền, lợi cích hợp pháp của nguyên đón, bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong các vụ án về tranh chấp dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh thương mại, lao động và các vụ việc khác theo quy định của pháp luật.

Hoạt động tham gia tố tụng tranh tụng của luật sư luôn gắn liền với hoạt động xét xử, thực hiện quyền tư pháp của Nhà nước, ảnh hưởng trực tiếp đến tự do, tài sản, các quyền nhân thân, thậm chí cả tính mạng của khách hàng. bảo đảm nguyên tắc tranh tụng trong hoạt động xét xử theo quy định tại Điều 26 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 là một trong những nguyên tắc đã sớm được hiến định, bao gồm quá trình giải quyết vụ án tại Tòa Án. Theo đó, các bên được quyền tranh tụng và hoạt động xét xử của Tòa án là độc lập và công khai, các bên (bên buộc tội và bên gỡ tội trong vụ án hình sự,nguyên đơn bị đơn trong vụ án phi hình sự) có quyền bình đẳng trong việc đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật, yêu cầu , và tranh luận trước Tòa án để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình theo quy định của pháp luật tố tụng. Tòa án đưa ra phán quyết cuói cùng dựa trên kết quả tranh tụng công khai tại phiên tòa. Luật sư tham gia tố tụng để thực hiện nguyên tắc bảo đảm tranh tụng, bào chữa, bảo vệ tốt nhất quyền và lợi ích hợp pháp của khách hàng.

Do lĩnh vực tham gia tố tụng đòi hỏi những tố chất và năng lượng đặc biệt, cả về tâm thế và vị thể, nên luật sư vửa phải chịu trách nhiệm pháp lý (trách nhiệm hình sự, trách nhiệm hành chính , trách nhiệm dân sự) và trách nhiệm đạo đức nghề nghiệp (trách nhiệm kỷ luật với các hình thức xử lý được quy định trong luật luật s, bộ quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp luật sư).

 

3.2 Hoạt động tư vấn pháp luật

Tư vấn pháp luật là một phạm vi hành nghề trọng yếu của luật sư, nhằm hướng dẫn, đưa ra ý kiến, giúp khách hàng soạn thảo các giấy tờ liên quan đến việc thực hiện quyền, nghĩa vụ của họ. Tư vấn pháp luật là loại hình dịch vụ pháp ý có vai trò quan trọng và phố biến, đặc biệt là trong bối cảnh Việt nam đang chủ động hội nhập quốc tế ngày càng mạnh mẽ và sâu rọng. Chính vì vậy, việc trang bị và bồi dưỡng kỹ năng tư vấn pháp luật cho luật sư trở thành một nhu cầu thiết yếu. 

Điều 28 Luật luật sư năm 2006 quy định về hoạt động tư vấn pháp luật của luật sư. Tư vấn pháp luật là việc luật sư hướng dẫn, đưa ra ý kiến, giúp khách hàng soạn thảo các giấy tờ liên quan đến việc thực hiện quyền, lợi íhc hợp pháp của họ. Tư vấn pháp luật của luật sư cần phải tuân thủ theo một số yêu cầu nghề nghiệp đặc thù so với hoạt động tư vấn pháp luật của các luật gia hoặc giảng viên luật tại các trường đại học. 

Theo điều 35 LLS năm 2006, tổ chức hành nghề luật sư chỉ được thực hiện tư vấn pháp luật cho khách hàng sau khi đã đăng ký hoạt động tại Sở Tư pháp ở địa phương nơi có Đoàn luật sư mà trưởng văn phòng luật sư hoặc giám đốc công ty Luật là thành viên và được cấp giấy phép hoạt động. Theo khoản 1 Điều 78 Luật luật sư năm 2006 , đối với tổ chức hành nghề luật sư nước ngoài thì phải đăng ký với Bộ tư pháp. Về nguyên tắc, luật sư được quyền tham gia tư vấn giải quyết các vụ, việc trong tất cả các lĩnh vực pháp luật như tài chính, ngân hàng, đầu tư, lao động, sở hữu trí tuệ... Tuy nhiên, đối với một số lĩnh vực pháp luật đặc thù, để được thực hiện tư vấn pháp luật, luật sư cần phải đáp ứng một số điều kiện nhất định. Ví dụ điển hình nhất là trường hợp tư vấn pháp luật về vấn đề liên quanđến thủ tục xác lập và thực thi quyền sở hữu công nghiệp trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp, luật sư tư vấn cần phải có chứng chỉ hành nghề dịch vụ đại diện sở hữu công nghiệp.

Hiện nay, các tổ chức hành nghề luật sư ở Việt Nam thường tập trung vào các lĩnh vực hoạt động tư vấn pháp luật chính sau đây: Giao dịch thương mại, đầu tư nước ngoài và hoạt động công ty (bao gồm cả hoạt động mua bán và sáp nhập), tài chính ngân hàng, sở hữu trí tuệ... Đây là các mảng hoạt động mang lại hiệu quả, doanh thu và uy tín lớn cho các tổ chức hành nghề, tạo lập được thương hiệu trong từng lĩnh vực chuyên sâu.

 

3.3 Đại diện ngoài tố tụng cho khách hàng để thực hiện các công việc liên quan đến pháp luật

 Điều 29 Luật luật sư năm 2006 quy định hoạt động đại diện ngoài tố tụng của luật sư. Luật sư đại diện cho khách hàng để giải quyết các công việc có liên quan đến việc mà luật sư đã nhận theo phạm vi, nội dung được ghi trong hợp đồng dịch vụ pháp lý hoặc theo sự phân công của cơ quan, tổ chức nơi luật sư hành nghề với tư cách cá nhân làm việc theo hợp đồng lao động. Khi đại diện cho khách hàng, luật sư có quyền, nghĩa vụ theo quy định của pháp luật có liên quan.

Hoạt động đại diện ngoài tố tụng có thể bao gồm toàn bộ thỏa thuận giữa luật sư và khách hàng về các công việc cần thực hiện theo phạm vi, nội dung được ghi trong hợp đồng dịch vụ pháp lý hoặc theo sự phân công của cơ quan, tổ chức nơi luật sư hành nghề với tư cách cá nhân làm việc theo hợp đồng lao động. Hình thức đại diện bằng văn bản, theo đó , các bên phải lập giấy ủy quyền hoặc hợp đồng ủy quyền được công chứng viên chứng nhận hoặc ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền chứng thực. Trong văn bản ủy quyền cần thỏa thuận rõ nội dung công việc mà luật sư đại diện, phạm vi, thời gian, thù lao và chi phí đại diện hoặc phương thức tính chi phí, đồng thời cũng cần thỏa thuận rõ các quyền và nghĩa vụ khác giữa hai bên.

 

3.4 Hoạt động dịch vụ pháp lý khác và hoạt động trợ giúp pháp lý

Khi kinh tế - xã hội phát triển thì hiểu biết pháp luật của khách hàng cũng được nâng cao và sự chuyên nghiệp hóa trong môi trường nghề nghiệp luật sư, dịch vụ pháp lý khác của luật sư có cơ hội được phát triển. Mọi vấn đề liên quan đến các lĩnh vực pháp lý khách hàng sẽ tìm đến luật sư nhờ tư vấn. mọi vấn đề liên quan đến các lĩnh vực pháp lý khách hàng sẽ tìm đến luật sư nhờ tư ván. Theo quy định của pháp luật, các dịch vụ pháp lý khác của luật sư rất đa dạng, phát sinh trong nhiều lĩnh vực pháp luật dựa trên yêu cầu của khách hàng. Các dịch vụ pháp lý khác của luật sư cung cấp cho khách hàng không bị giới hạn, ngoại trừ các dịch vụ thuộc phạm vi tư vấn, tham gia tố tụng và đại diện ngoài tố tụng.

Điều 30 luật luật sư 2006 quy định hoạt động dịch vụ pháp lý khác của luật sư, bao gồm giúp đỡ khách hàng thực hiện công việc liên quan đến thủ tục hành chính, giúp đỡ khách hàng htuwjc hiệncoong việc khác theo quy định của pháp luật. Khi thực hiện dịch vụ pháp lý khác, luật sư có quyền, nghĩa vụ theo quy định của pháp luật có liên quan. Dịch vụ pháp lý khác của luật sư là các dịch vụ mà luật sư cung cấp cho khách hàng nhưng không thuộc phạm vi tư vấn pháp luật, tham gia tố tụng và cũng không thuộc phạm vi đại diện ngoài tố tụng. 

Trong thực tế, dịch vụ pháp lý khác của luật sư có thể là dịch vụ chính thức hoặc cũng có thể là dịch vụ có tính chất gia tăng trong một vụ việc khác. Trường hợp là dịch vụ chính thức, luật sư và khách hàng phải ký kết hợp đồng dịch vụ pháp lý để thực hiện các công việc thuộc dịch vụ này. Trường hợp dịch vụ pháp lý khác là dịch vụ gia tăng mà luật sư cung cấp cho khách hàng sau tố tụng, thì giữ luật sư và khách hàng đã có hợp đồng dịch vụ pháp lý từ trước đó nên có thể đã có thỏa thuận về các đối tượng dịch vụ pháp lý khác này. Trong trường hợp chưa có , phải ký kết phụ lục hợp đồng bổ sung, tuy nhiên sẽ không tính thêm thù lao và chi phí luật sư. Do vậy, dịch vụ pháp lý khác lúc này chỉ có tính chất gia tăng hỗ trợ và vẫn thuộc trách nhiệm cung cấp dịch vụ của luật sư với khách hàng, không được tính thêm thù lao hoặc chi phí.

Ngoài ra, thực hiện trợ giúp pháp lý là một trong những nghĩa vụ bắt buộc của luật sư theo quy định tại Điểm d khoản 2 Điều 21 luật luật sư năm 2006. Điều 31 Luật luật sư 2006 quy định hoạt động trợ giúp pháp lý của luật sư. Khi thực hiện trợ giúp pháp lý, luật sư phải tận tâm với người được trợ giúp như đối với khách hàng trong những vụ, việc có thù lao. Luật sư tham gia phổ biến tuyên truyền, giáo dục pháp luật, trợ giúp pháp lý miễn phí theo quy định của pháp luật và của Liên đoàn, đoàn luật sư được quy định tại điểm c khoản 2 Điều 27 Điều lệ liên đoàn luật sư Việt Nam 2015.

Trên đây là tư vấn của chúng tôi. Nếu còn vướng mắc chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác nhau vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại, gọi ngay tới số: 1900.6162 để được giải đáp