1. Giải thích lạm phát của phái Duy tiền

Milton Friedman (ngày 31 tháng bảy năm 1912 - 16 tháng 11 năm 2006) là một người Mỹ chuyên gia kinh tế và nhà thống kê đã nhận 1976 giải thưởng Nobel về Khoa học Kinh tế cho nghiên cứu của mình về tiêu thụ phân tích, tiền tệ lịch sử và lý thuyết và sự phức tạp của chính sách bình ổn.

Milton Fisher lập luận rằng lãi suất danh nghĩa bằng với tổng số lãi suất thực tế và tỉ lệ lạm phát dự đoán. Điều này trực tiếp làm phát sinh vấn đề nên hình thành dự đoán ra sao. Một lý thuyết phổ biến về dự đoán gọi là lý thuyết dự tính phỏng theo, phát biểu đơn giản dự đoán giá cả hình thành trên cơ sở kinh nghiệm đã qua với lạm phát với kinh nghiệm về giá trong quá khứ gần xem trọng hơn kinh nghiệm trong quá khứ xa. Tính không chắc về giá kỳ hạn chi phối dự đoán. Chẳng hạn người lao động ký hợp đồng để có tiền lương kỳ hạn, còn doanh nghiệp ấn định giá kỳ hạn trên cơ sở một số dự đoán (không chắc chắn) về giá kỳ hạn. Lý thuyết dự tính phỏng theo phát biểu những dự đoán này sẽ được hình thành chủ yếu bằng kinh nghiệm trong quá khứ gần đây hơn.

Nên nhớ lãi suất danh nghĩa một phần là hàm dự đoán giá cả và nhu cầu số dư tiền mặt đến lượt là một hàm của lãi suất danh nghĩa. Hối suất danh nghĩa cao hơn có nghĩa là phí tổn cơ hội nắm giữ tiền nhiều hơn, có nghĩa nhu cầu số dư tiền mặt giảm (và ngược lại).

Vì thế giải thích lạm phát đơn giản hóa dựa vào sự sử dụng khái niệm dự tính phỏng theo, hiệu ứng Fischer, và hàm nhu cầu tiền tệ (có bổ sung) của Friedman. Cứ cho rằng (1) có mức độ không đổi trong lạm phát tiền tệ của ngân hàng trung ương, (2) tỉ lệ lạm phát dự đoán (và bằng với tỉ lệ lạm phát tiền tệ), (3) lãi suất danh nghĩa bằng với lãi suất thực cộng với tỉ lệ lạm phát (hay lạm phát tiền tệ) luôn không đổi, (4) sự nắm giữ số dư tiền mặt thực tế và mong muốn đều ngang bằng, và (5) thu nhập thực tế đang tăng ở tỉ lệ không đổi. Căn cứ vào những điều kiện này, cứ cho rằng sự gia tăng tỉ lệ lạm phát tiền tệ một lần và mãi mãi.

2. Kết quả ban đầu của sự gia tăng tỉ lệ lạm phát tiền tệ

Kết quả ban đầu của sự gia tăng tỉ lệ lạm phát tiền tệ là phải gia tăng số dư tiền mặt thực tế của cá nhân và doanh nghiệp trên mức mong muốn và ban đầu làm giảm lãi suất danh nghĩa (vì ngân quỹ cho vay gia tăng, trong nhất thời làm giảm lãi suất thực tế - có thể gọi “hiệu ứng Wicksell” nếu muốn). Sự dư thừa số dư tiền mặt dẫn đến chi tiêu gia tăng khi mua hàng hóa, chứng khoán và tất cả những tài sản khác. Giá cả thực tế bắt đầu tăng (có phần nào như tiền lương danh nghĩa) do chi tiêu danh nghĩa gia tăng. Dự đoán, sau một thời gian, “phỏng theo” giá đang gia tăng, là nguyên nhân khiến cho lãi suất danh nghĩa, ban đầu giảm, nhưng tăng sau đó. Quá trình vẫn chưa kết thúc: (1) tỉ lệ lạm phát mới bằng với tỉ lệ lạm phát tiền tệ mới và cao hơn, (2) lãi suất danh nghĩa tăng bởi số lượng ngang bằng với số chênh lệch giữa tỷ lệ lạm phát cũ và mới, (3) số dư tiền mặt thực tế lại bằng với số dư tiền mặt mong muốn, và (4) lãi suất thực tế được phục hồi như mức trước đây. Lưu ý mức số dư tiền mặt nắm giữ sẽ thấp hơn mức trước khi tăng lại suất tiền tệ mới vì lãi suất danh nghĩa cao hơn, có nghĩa là phí tổn nắm giữ tiền nhiều hơn.

Thế quá trình có ngụ ý gì trong chính sách kinh tế? Một số đã rõ. Chúng ta thường nghe “tiền khan hiếm và lãi suất cao là nguyên nhân của lạm phát” bao nhiêu lần? Nhiều doanh nhân và chính khách tỏ ra gắn bó với quan điểm ngây thơ này. Phiên bản thực tế duy tiền cho chúng ta biết chính xác trường hợp xảy ra ngược lại. Trong khi lạm phát tiền tệ lúc đầu giảm lãi suất danh nghĩa, thì lạm phát và hiệu ứng Fischer tiếp tục và sau cùng khiến cho lãi suất danh nghĩa tăng. Biện pháp duy nhất là lãi suất có thể giảm trong thời gian dài là để tạo ra tỉ lệ lạm phát ngày càng nhiều hơn, một chính sách rất nguy hiểm theo quan điểm của phái Duy tiền.

>> Xem thêm:  Thị trường giao dịch tập trung là gì ? Thị trường giao dịch phi tập trung là gì?

3. Lạm phát là một hiện tượng tiền tệ

Friedman lập luận, lạm phát là một hiện tượng tiền tệ và ông chứng minh thuyết phục vấn đề này cho nước Mỹ trong nghiên cứu thực nghiệm đồ sộ (tiến hành với Anna Schwartz) nhan đề A Monetary History of the United States, 1867-1960. Như trong các phiên bản sớm hơn và ngây thơ hơn trong lý thuyết số lượng, lạm phát có thể giải thích bằng tốc độ gia tăng (phát triển nhu cầu tiền tệ giảm), việc tăng thu nhập bị giảm, hay tỉ lệ lạm phát tiền tệ gia tăng. Theo quan điểm duy tiền hiện đại, có những giới hạn đối với sự phát triển tốc độ - người ta có thể tiết kiệm nhiều như thế bằng số dư tiền mặt. Hơn nữa, tăng thu nhập và việc làm trong tiến trình dài hạn được quyết định bằng các yếu tố thực tế và ".'. yếu tố khác (xem phần sau). Thủ phạm còn lại là lạm phát tiền tệ. Sau cùng giải thích lạm phát của phái duy tiền, như chúng ta chứng kiến trong phần sau, là giải thích hình thành từ những thay đổi nhiệm ý thất thường trong tỉ lệ phát triển tiền tệ.

4. Lạm phát và thất nghiệp: Phản ứng của phái Duy tiền

Chủ nghĩa Duy tiền mở rộng vấn đề tăng việc làm và thu nhập và đối với mối quan hệ của chúng với lạm phát. Năm 1958, trong một bài thuyết trình nổi tiếng hình thành một “hiệu ứng” mang tên nhà kinh tế học người Anh A. w. Phillips thảo luận mối quan hệ giữa tỉ lệ thất nghiệp và lạm phát (“The Relation be-tvoeen Unemployment and the Rate of Change of Money Wage Rates in the United Kingdom, 1861-1957”). “Đường cong Phillips” mô tả mối quan hệ nghịch đảo giữa tỉ lệ thất nghiệp và tỉ lệ lạm phát chẳng hạn như các tỉ lệ lạm phát ngày càng cao hơn đòi hỏi phải giảm tỉ lệ thất nghiệp bằng một tỉ lệ phần trăm nhất định. Nếu đúng, điều này thể hiện sự khó xử đối với những người quyết định chính sách sau cùng. Vấn đề định nghĩa phát sinh. Định nghĩa thất nghiệp, bao gồm cả hai yếu tố ma sát và cấu trúc - vẫn đang tranh luận. Nhà kinh tế học có chấp nhận định nghĩa của Bộ lao động, hay khái niệm của Hội đồng tư vấn kinh tế hay không, hay khái niệm khác?

Thực tế Kinh tế Vĩ mô như “đình trệ” dẫn đến thái độ hoài nghi về mối quan hệ Phillips. Friedman một lần nữa thành công và đưa ra khái niệm thay thế cả hai đường cong Phillips ngắn hạn và thất nghiệp. Trong cuộc nói chuyện với chủ tịch Hiệp hội kinh tế Mỹ (“Vai trò chính sách tiền tệ”), Friedman lập luận mối quan hệ Phillips dài hạn là theo hàng dọc ở một số tỉ lệ thất nghiệp tự nhiên. Nghĩa là trong dài hạn, bất kỳ tỉ lệ lạm phát tiền tệ và lạm phát cụ thể đều có ít hay không có gì để làm với tỉ lệ thất nghiệp tự nhiên, vấn đề điều gì hình thành tỉ lệ thất nghiệp tự nhiên được Friedman phát triển trong thuật ngữ sau:

“Cho rằng... tỉ lệ thất nghiệp không đổi với điều kiện thực tể hiện có trong thị trường lao động. Có thể giảm bằng cách tháo bỏ rào cản trong thị trường lao động, bằng cách giảm bớt sự cọ sát. Có thể tăng bằng việc đưa ra các rào cản bổ sung. Mục đích của khái niệm là phải tách khía cạnh tiền tệ ra khỏi khía cạnh phi tiền tệ trong tình hình việc làm - nhất là cùng mục đích với Wicksell khi sử dụng từ tự nhiên khi kết hợp với lãi suất”. (Price Theory, trang 228). Lúc ấy trong khái niệm của Friedman, tỉ lệ thất nghiệp tự nhiên được xác định bằng tất cả điều kiện thực tế ảnh hưởng cung cầu lao động. Những yếu tố này sẽ bao gồm tất cả sự sắp xếp định chế, chẳng hạn như mức độ tổ chức thành công đoàn, định luật lương tối thiểu, tỉ lệ phụ nữ trong lực lượng lao động, trình độ học vấn của công nhân, v.v...

Thế nhưng, trong ngắn hạn, tỉ lệ thất nghiệp thực tế có thể đi chệch khỏi tỉ lệ tự nhiên, có thể cao hơn hay thấp hơn tỉ lệ tự nhiên. Muốn hiểu theo trực giác vấn đề này có thể xảy ra thế nào chúng ta đơn thuần cần trở lại phân tích tiền tệ và lạm phát trong phần trước, chỉ thay đổi giả định phát biểu rằng đầu ra và việc làm không đổi qua sự điều chỉnh ở tỉ lệ lạm phát tiền tệ mới.

5. Điểm mấu chốt trong việc hiểu quan hệ thất nghiệp- lạm phát ngắn hạn

>> Xem thêm:  Hội đồng tương trợ kinh tế (SEV) là gì? Tìm hiểu về Hội đồng tương trợ kinh tế (SEV)

Điểm mấu chốt trong việc hiểu quan hệ thất nghiệp- lạm phát ngắn hạn là phải lưu ý sau khi tăng tỉ lệ lạm phát tiền tệ, nhận thức của doanh nhân và công nhân hay dự đoán chệch khỏi kinh nghiệm giá cả thực tế. Nhất là, khi cá nhân bắt đầu từ bỏ số dư tiền mặt thừa, giá cả hàng hóa và dịch vụ sẽ tăng. Các nhà doanh nghiệp cá thể nhận thức sự gia tăng trong cầu (và giá cả) đối với sản phẩm của riêng họ (chứ không phải sự gia tăng trong mức giá cả chung) và sản xuất nhiều hơn nữa, cùng lúc thuê lao động nhiều hơn ở mức lương thực tế thấp hơn thực sự.

Tại sao lao động sẵn sàng cung cấp thêm nhiều lao động hơn? (Tiền lương danh nghĩa có phần nào tăng, nhưng lạm phát có khuynh hướng kéo tiền lương thực tế xuống, cho thấy số lượng đầu vào lao động giảm!) Câu trả lời là nhận thức của người lao động về giá cả đang tụt hậu phía sau - công nhân theo thuật ngữ của Keynes đang chịu ảo tưởng giá trị tiền tệ. Nói cách khác, tiền lương danh nghĩa tăng đánh lừa công nhân bằng suy nghĩ tiền lương thực tế tăng, vì thế họ cung cấp nhiều lao động hơn. Do đó, thất nghiệp sẽ giảm thấp hơn tỉ lệ tự nhiên cho đến khi người lao động (và doanh nghiệp) đuổi theo kịp và tái điều chỉnh. Vì thế, có mối quan hệ nghịch đảo ngắn hạn giữa thất nghiệp và lạm phát, nhưng trong dài hạn mối quan hệ Phillips là theo hàng dọc ở tỉ lệ thất nghiệp tự nhiên. Vì thế phái Duy tiền cho rằng việc làm dài hạn và do đó tăng đầu ra được quyết định bằng yếu tố sản xuất thực tế ảnh hưởng thị trường đầu vào. Thay đổi tỉ lệ phát triển cung-cầu chỉ ảnh hưởng đầu ra và việc làm nhất thời. Dù sao, thay đổi lượng tiền cung ứng đều có ảnh hưởng dài hạn đến tỉ lệ thay đổi giá cả.

LUẬT MINH KHUÊ (Sưu tầm)

>> Xem thêm:  Knut Wicksell và lý thuyết Tiền tệ hiện đại

Các câu hỏi thường gặp

Câu hỏi: Chủ nghĩa tiền tệ là gì?

Trả lời:

Chủ nghĩa tiền tệ là một trường phái tư tưởng trong kinh tế học tiền tệ nhấn mạnh vai trò của các chính phủ trong việc kiểm soát lượng tiền lưu thông. Lý thuyết chủ nghĩa tiền tệ khẳng định rằng sự thay đổi trong cung tiền có ảnh hưởng lớn đến sản lượng quốc gia trong ngắn hạn và mức giá trong thời gian dài hơn. Các nhà chủ nghĩa tiền tệ khẳng định rằng các mục tiêu của chính sách tiền tệ được đáp ứng tốt nhất bằng cách nhắm vào tốc độ tăng cung tiền hơn là bằng cách tham gia vào chính sách tiền tệ tùy ý.

 

Câu hỏi: Trong kinh tế học, lạm phát là gì?

Trả lời:

Trong kinh tế học, lạm phát (hay ít thường xuyên hơn là  lạm phát giá cả ) là sự gia tăng chung của mức giá cả của một nền kinh tế trong một khoảng thời gian. Khi mức giá chung tăng lên, mỗi đơn vị tiền tệ mua ít hàng hóa và dịch vụ hơn; do đó, lạm phát phản ánh sự giảm sức mua trên một đơn vị tiền - sự mất giá trị thực trong phương tiện trao đổi và đơn vị tài khoản trong nền kinh tế. Ngược lại với lạm phát là giảm phát, mức giá chung của hàng hóa và dịch vụ giảm liên tục. 

 

Câu hỏi: Lạm phát ảnh hưởng đến các nền kinh tế như thế nào?

Trả lời:

Lạm phát ảnh hưởng đến các nền kinh tế theo nhiều cách tích cực và tiêu cực khác nhau. Các tác động tiêu cực của lạm phát bao gồm sự gia tăng chi phí cơ hội của việc giữ tiền, sự không chắc chắn về lạm phát trong tương lai có thể không khuyến khích đầu tư và tiết kiệm, và nếu lạm phát đủ nhanh, tình trạng thiếu hàng hóa khi người tiêu dùng bắt đầu tích trữ vì lo ngại rằng giá sẽ tăng Tương lai. Các tác động tích cực bao gồm giảm tỷ lệ thất nghiệp do mức lương danh nghĩa cứng nhắc, cho phép ngân hàng trung ương tự do hơn trong việc thực hiện chính sách tiền tệ , khuyến khích các khoản vay và đầu tư thay vì tích trữ tiền, và tránh sự kém hiệu quả liên quan đến giảm phát.