- 1. Quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản được pháp luật bảo vệ như thế nào?
- 2. Làm gì khi quyền sở hữu của mình bị xâm phạm?
- 3. Chiếm hữu tài sản trong trường hợp nào thì được coi là không xâm phạm quyền sở hữu?
- 4. Chủ sở hữu có quyền đòi lại tài sản trong trường hợp nào?
- 5. Quyền yêu cầu chấm dứt hành vi cản trở trái pháp luật đối với việc thực hiện quyền sở hữu
- 6. Quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại
1. Quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản được pháp luật bảo vệ như thế nào?
Điều 163 Bộ luật dân sự 2015 có quy định như sau:
Điều 163. Bảo vệ quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản
1. Không ai có thể bị hạn chế, bị tước đoạt trái luật quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản.
2. Trường hợp thật cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh hoặc vì lợi ích quốc gia, tình trạng khẩn cấp, phòng chống thiên tai, Nhà nước trưng mua hoặc trưng dụng có bồi thường tài sản của tổ chức, cá nhân theo giá thị trường.
Quyền của chủ thể đối với tài sản (gồm quyền sở hữu và quyền khác đối với tài sản) là quyền được pháp luật bảo vệ tuyệt đối. Quyền này được pháp luật công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm và có hiệu lực đối kháng với các tất cả các chủ thể còn lại trong xã hội. Hay nói cách khác, các chủ thế khác còn lại trong xã hội đều phải có nghĩa vụ tôn trọng các quyền năng của chủ sở hữu, của chủ thể có quyền khác đối với tài sản; không được ngăn cản hay có hành vi xâm phạm các quyền năng này.
Quyền sở hữu tài sản chỉ vị hạn chế trong trường hợp:
Thứ nhất, trong những hoàn cảnh rất đặc biệt mà theo đó lợi ích tư của chủ thể quyền phải nhường cho lợi ích của Nhà nước, lợi ích chung của đa số, đó là:
- Trường hợp thật cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh hoặc vì lợi ích quốc gia;
- Tình trạng khấn cấp, phòng chổng thiên tai.
Như vậy, lợi ích của số đông chỉ liên quan đến thiên tai thì quyền của chủ thể mới bị hạn chế;
Thứ hai, chỉ duy nhất Nhà nước mới là chủ thể có quyền trưng thu, trưng mua;
Thứ ba, giá trị của tài sản được Nhà nước bảo đảm bồi thường cho chủ thể theo giá của thị trường.
2. Làm gì khi quyền sở hữu của mình bị xâm phạm?
- Quyền sở hữu đối với tài sản được pháp luật bảo vệ, công nhận và tôn trọng nhưng trong thực tế khó tránh khỏi những hành vi xâm phạm từ chủ thể khác. Do đó, tại Điều 164 Bộ luật dân sự 2015 có quy định về biện pháp bảo vệ quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản
Điều 164. Biện pháp bảo vệ quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản
1. Chủ sở hữu, chủ thể có quyền khác đối với tài sản có quyền tự bảo vệ, ngăn chặn bất kỳ người nào có hành vi xâm phạm quyền của mình bằng những biện pháp không trái với quy định của pháp luật.
2. Chủ sở hữu, chủ thể có quyền khác đối với tài sản có quyền yêu cầu Tòa án, cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác buộc người có hành vi xâm phạm quyền phải trả lại tài sản, chấm dứt hành vi cản trở trái pháp luật việc thực hiện quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản và yêu cầu bồi thường thiệt hại.
Khoản 1 của điều luật trên quy định về quyền tự bảo vệ của chủ thể đối với tài sản bằng bất cứ biện pháp nào không trái pháp luật. Chẳng hạn, chủ sở hữu bảo vệ tài sản của mình bằng biện pháp chăng dây điện có cắm nguồn điện gây giật chết người thì đó hành vi trái pháp luật.
Chủ thể bảo vệ quyền của mình thông qua các cơ quan chức năng bằng việc gửi yêu cầu đến Tòa án và các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền khác với các nội dung cụ thể như:
- Đòi lại tài sản.
- Yêu cầu chấm dứt hành vi cản trở trái pháp luật thực hiện quyền.
- Yêu cầu bồi thường thiệt hại.
Mỗi một yêu cầu trên đều kèm theo những điều kiện cụ thể mà chủ thể quyền phải đáp ứng khi gửi đơn khởi kiện.
3. Chiếm hữu tài sản trong trường hợp nào thì được coi là không xâm phạm quyền sở hữu?
Chiếm hữu bao gồm: Chiếm hữu có căn cứ pháp luật và chiếm hữu không có căn cứ pháp luật.
Các trường hợp chiếm hữu có căn cứ pháp luật được quy định cụ thể trong Khoản 1 Điều 165 Bộ luật dân sự 2015:
Chiếm hữu có căn cứ pháp luật là việc chiếm hữu tài sản trong trường hợp sau đây:
a) Chủ sở hữu chiếm hữu tài sản;
b) Người được chủ sở hữu ủy quyền quản lý tài sản;
c) Người được chuyển giao quyền chiếm hữu thông qua giao dịch dân sự phù hợp với quy định của pháp luật;
d) Người phát hiện và giữ tài sản vô chủ, tài sản không xác định được ai là chủ sở hữu, tài sản bị đánh rơi, bị bỏ quên, bị chôn, giấu, bị vùi lấp, chìm đắm phù hợp với điều kiện theo quy định của Bộ luật này, quy định khác của pháp luật có liên quan;
đ) Người phát hiện và giữ gia súc, gia cầm, vật nuôi dưới nước bị thất lạc phù hợp với điều kiện theo quy định của Bộ luật này, quy định khác của pháp luật có liên quan;
e) Trường hợp khác do pháp luật quy định.
Việc chiếm hữu tài sản không phù hợp với quy định trên là chiếm hữu không có căn cứ pháp luật và sẽ không được pháp luật bảo vệ.
4. Chủ sở hữu có quyền đòi lại tài sản trong trường hợp nào?
- Chủ sở hữu, chủ thể khác có quyền đối với tài sản có quyền đòi lại tài sản và chủ sở hữu không có quyền đòi lại tài sản đó từ sự chiếm hữu của chủ thể đang có quyền khác đối với tài sản theo quy định tại Điều 166 Bộ luật dân sự 2015:
Điều 166. Quyền đòi lại tài sản
1. Chủ sở hữu, chủ thể có quyền khác đối với tài sản có quyền đòi lại tài sản từ người chiếm hữu, người sử dụng tài sản, người được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật.
2. Chủ sở hữu không có quyền đòi lại tài sản từ sự chiếm hữu của chủ thể đang có quyền khác đối với tài sản đó.
- Đối với động sản không phải đăng ký, chủ sở hữu có quyền đòi lại tài sản từ người chiếm hữu ngay tình trong trường hợp người chiếm hữu ngay tình có được động sản này thông qua hợp đồng không có đền bù với người không có quyền định đoạt tài sản; trường hợp hợp đồng này là hợp đồng có đền bù thì chủ sở hữu có quyền đòi lại động sản nếu động sản đó bị lấy cắp, bị mất hoặc trường hợp khác bị chiếm hữu ngoài ý chí của chủ sở hữu (Điều 167 Bộ luật dân sự 2015)
- Đối với tài sản là động sản phải đăng ký, bất động sản thì chủ sở hữu được đòi lại động sản phải đăng ký quyền sở hữu hoặc bất động sản từ người chiếm hữu ngay tình, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 133 của Bộ luật dân sự.
Khoản 2 Điều 133:
"Trường hợp giao dịch dân sự vô hiệu nhưng tài sản đã được đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền, sau đó được chuyển giao bằng một giao dịch dân sự khác cho người thứ ba ngay tình và người này căn cứ vào việc đăng ký đó mà xác lập, thực hiện giao dịch thì giao dịch đó không bị vô hiệu.
Trường hợp tài sản phải đăng ký mà chưa được đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền thì giao dịch dân sự với người thứ ba bị vô hiệu, trừ trường hợp người thứ ba ngay tình nhận được tài sản này thông qua bán đấu giá tại tổ chức có thẩm quyền hoặc giao dịch với người mà theo bản án, quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền là chủ sở hữu tài sản nhưng sau đó chủ thể này không phải là chủ sở hữu tài sản do bản án, quyết định bị hủy, sửa."
5. Quyền yêu cầu chấm dứt hành vi cản trở trái pháp luật đối với việc thực hiện quyền sở hữu
Bên cạnh quyền kiện đòi tài sản thì chủ sở hữu có quyền yêu cầu người có hành vi cản trở trái pháp luật phải chấm dứt hành vi.
Theo Điều 169 Bộ luật dân sự 2015:
Điều 169. Quyền yêu cầu chấm dứt hành vi cản trở trái pháp luật đối với việc thực hiện quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản
Khi thực hiện quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản, chủ thể có quyền yêu cầu người có hành vi cản trở trái pháp luật phải chấm dứt hành vi đó hoặc có quyền yêu cầu Tòa án, cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác buộc người đó chấm dứt hành vi vi phạm.
Nếu chủ sở hữu yêu cầu người có hành vi vi phạm chấm dứt hành vi nhưng không có kết quả thì chủ thể có quyền yêu cầu Tòa án, cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác buộc người đó chấm dứt. Yêu cầu chấm dứt hành vi cản trở chủ thể thực hiện quyền là biện pháp kịp thời ngăn chặn những hậu quả xấu, nghiêm trọng có thể xảy ra. Việc sử dụng các mệnh lệnh hành chính hay các quyết định của Tòa án đã thể hiện thái độ quyết liệt của Nhà nước trong việc bảo vệ các quyền của chủ sở hữu. Neu các hành vi cản trở trên vẫn cứ tiếp tục tái diễn thì chủ thể có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự khi đáp ứng các điều kiện do pháp luật hình sự quy định.
6. Quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại
Tại Điều 170 Bộ luật dân sự 2015 có quy định như sau:
Điều 170. Quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại
Chủ sở hữu, chủ thể có quyền khác đối với tài sản có quyền yêu cầu người có hành vi xâm phạm quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản bồi thường thiệt hại.
Kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại đối với hành vi xâm phạm quyền sở hữu là thuộc loại kiện trái quyền, đó là kiện yêu cầu bên có hành vi xâm phạm phải trả một khoản tiền để bù đáp những thiệt hại đã gây ra.
Đây cũng là thuộc loại trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, do đó phải đáp ứng đồng thời các điều kiện như sau:
- Có hành vi xâm phạm quyền trái pháp luật; có thiệt hại xảy ra đối với tài sản;
- Người có hành vi xâm phạm có lỗi;
- Có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi xâm phạm và thiệt hại xảy ra.
Hình thức kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại này có thể tiến hành độc lập hoặc kèm theo kiện đòi tài sản khi tài sản đó còn nhưng đã bị hư hỏng, giảm sút giá trị. Những thiệt hại gián tiếp từ tài sản như những hoa lợi, lợi tức bị mất từ việc khai thác, sử dụng tài sản... cũng là căn cứ để tính mức bồi thường cho những trường hợp này.
Theo Điều 589 Bộ luật dân sự 2015 có quy định thiệt hại do tài sản bị xâm phạm như sau:
Điều 589. Thiệt hại do tài sản bị xâm phạm
Thiệt hại do tài sản bị xâm phạm bao gồm:
1. Tài sản bị mất, bị hủy hoại hoặc bị hư hỏng.
2. Lợi ích gắn liền với việc sử dụng, khai thác tài sản bị mất, bị giảm sút.
3. Chi phí hợp lý để ngăn chặn, hạn chế và khắc phục thiệt hại.
4. Thiệt hại khác do luật quy định.
Quy định này sẽ là căn cứ để xác định mức bồi thường khi tài sản bị xâm phạm.
Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua Email : Tư vấn pháp luật qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.
Trân trọng./.