1. Quy định chung về lãnh thổ quốc gia

Về mặt địa lí và pháp lí lãnh thổ quốc gia gồm có bốn bộ phận cấu thành: vùng đất; vùng nước; vùng trời và lòng đất.

1) Vùng đất là bộ phận cấu thành lãnh thổ của một quốc gia, gồm có đất liền và các đảo thuộc chủ quyền quốc gia. Quốc gia có chủ quyền hoàn toàn và tuyệt đối ở vùng đất;

2) Vùng nước là toàn bộ các, vùng nước nằm trong đường biên giới quốc gia gồm: vùng nước nội địa (ao, hồ, sông... nằm trong đất liền) và biển nội địa. Vùng nước nội địa thuộc chủ quyền hoàn toàn và tuyệt đối của quốc gia; vùng nước biên giới, nước sông, hồ, biển nội địa nằm ở khu vực biên giới, vùng nước nội thuỷ, vùng nước biển nằm phía trong đường cơ sở và giáp với bờ biển quốc gia. Vùng nội thuỷ thuộc chủ quyền hoàn toàn và tuyệt đối của quốc gia hữu quan; vùng nước lãnh hải, vùng nằm phía trong đường biên giới biển của quốc gia, giáp với đường cơ sở. Trong vùng nước lãnh hải, quốc gia có chủ quyền hoàn toàn và đầy đủ;

3) Vùng trời là khoảng không gian bao trùm trên vùng đất, vùng nước của quốc gia;

4) Lòng đất là phần đất nằm dưới vùng đất, vùng nước của quốc gia.

Lãnh thổ quốc gia được coi là không gian chứa đựng hay nằm dưới chủ quyền của một quốc gia. Không gian đó có thể hình dung như một hình chóp nón mà đỉnh là tâm trái đất, còn đáy là nơi tiếp giáp giữa bầu khí quyển và khoảng không vũ trụ. Như vậy, có thể xác định độ cao của vùng trời trên lãnh thổ quốc gia là trùng với độ cao của tầng khí quyển, còn độ sâu của nó là tâm trái đất. Tuy nhiên, hiện nay luật quốc tế cũng như luật quốc gia chưa quy định giới hạn chiều cao biên giới vùng trời và chiều sâu biên giới vùng lòng đất của quốc gia.

Lãnh thổ là thuật ngữ có nguồn gốc từ tiếng La tinh "Terra" có nghĩa là đất đai, Trái Đất. Lãnh thổ là một trong các yếu tố cơ bản cấu thành nên quốc gia vì đó là môi trường tự nhiên, là cơ sở vật chất cho sự tổn tại của từng quốc gia trong cộng đồng quốc tế.

Trong quan hê giữa các quốc gia, lãnh thổ có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, bởi lãnh thổ là cơ sở để duy trì ranh giới quyền lực nhà nước đối với một công đồng dân cư nhất định, đồng thòi tạo dựng và duy trì một trật tự pháp lý quốc tế hoà bình và Ổn định trong quan hệ giao lưu quốc tế.

Trong luật quốc tế, các quy định pháp lý về lãnh thổ chủ yếu điều chỉnh việc xây dựng quy chế pháp lý cùa các loại lãnh thổ, xác định chủ quyền và việc thực hiện chủ quyền quốc gia đối với lãnh thổ, giải quyết hệ quả của thực thi chủ quyền lãnh thổ như phân định lãnh thổ, giải quyết tranh chấp về lãnh thổ...

>> Xem thêm:  Luật hàng không quốc tế là gì ? Các nguyên tắc của Luật hàng không quốc tế

Tựu trung lại, trong luật quốc tế hiện đại, lãnh thổ được xác định là toàn bộ Trái Đất, bao gồm các bộ phận cấu thành là vùng đất, vùng nước, vùng trời, vùng lòng đất và kể cả khoảng không vũ trụ.

Lãnh thổ quốc gia của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam được quy định trong Hiến pháp. Hiến pháp năm 1992 quy định gồm có đất liền, các hải đảo, vùng biển và vùng trời. Mọi hành vi xâm phạm sự toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc Việt Nam đều bị trừng trị một cách nghiêm khắc theo quy định của pháp luật nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Lãnh thổ quốc gia là một phần của Trái Đất, bao gồm vùng đất, vùng nước, vùng trời và vùng lòng đất, thuộc chủ quyền hoàn toàn, riêng biệt hoặc tuyệt đối củá một quốc gia. Lãnh thổ quốc gia là toàn vẹn và bất khả xâm phạm.

Điều 1 Hiến pháp năm 2013 nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định:

“Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là một nước độc lập, có chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, bao gồm đất liền, hải đảo, vùng biển và vùng trời”.

2. Các bộ phận của lãnh thổ quốc gia

Lãnh thổ quốc gia gồm các bộ phận sau đây:

2.1 Vùng đất

Là bộ phận lãnh thổ mà không một quốc gia nào không cố. Vùng đất gồm có đất liền của lục địa và các đảo thuộc chủ quyền quốc gia. Quốc gia quần đảo bao gồm toàn bộ các đảo lớn, nhỏ thuộc về quốc gia đó như Philippin có 7.200 đảo. Một số quốc gia còn cố một bộ phận lãnh thổ nằm trọn ưong lãnh thổ cùa quốc gia khác, không có đường thông ra biển (gọi là lãnh thổ kín như Lavia, lãnh thổ của Tây Ban Nha nằm trong lãnh thổ Cộng hoà Pháp). Một số quốc gia như Nga, Mỹ, Na Ưy, Canada, Đan Mạch, Thụy Điển, Phần Lan và Aixơlen có lãnh thổ quốc gia giáp với Bắc cực còn có được một phần lãnh thổ của mình xuất phát từ yêu sách một phần đất hình rẻ quạt ở Bắc cực. Do vị trí địa lý, các vùng nước nội địa, là ao, hồ, sông, ngòi nằm trong đất liền và biển nội địa (tự nhiên hay nhân tạo) thuộc quy chế pháp lý cùa vùng đất liền. Các kênh đào, sông quốc tế nằm trong lãnh thổ quốc gia, do tính chất đặc biệt sẽ theo quy chế pháp lý riêng. Trong vùng đất, quốc gia có chủ quyền hoàn toàn và tuyệt đối.

2.2 Vùng nước

Là toàn bộ các vùng nước nằm phía trong đường biên giới của quốc gia trên biển, gồm:

>> Xem thêm:  Vùng trời của Quốc gia là gì ? Quy định về vùng trời của quốc gia

- Vùng nước nội thủy: Là vùng nước biển nằm phía trong dường cơ sở và giáp với bờ biển của quốc gia. Nội thủy của quốc gia quần đảo được xác định theo Điều 47 Công ước Luật biển năm 1982 của Liên hợp quốc, trong đó quốc gia quần đảo có thể vạch những đường khép kín để hoạch định ranh giới nội thủy của mình hoặc xác định theo tập quán quốc tế. Trong nội thủy, quốc gia có chủ quyền hoàn toàn và tuyệt đối.

- Vùng nước lãnh hải: Là vùng nằm phía trong đường biên giới biển của quốc gia, giáp vói đường cơ sở. Ngày nay, đa số các quốc gia có biển xác định bề rộng lãnh hải của mình rộng không quá 12 hải lý kể từ đường cơ sở. Trong lãnh hải, quốc gia có chủ quyền hóàn toàn và đầy đủ.

2.3 Vùng trời

Là khoảng không gian bao trùm trên vùng đất, vùng nước của quốc gia, được xác định bởi đường biên giới bao quanh và đường biên giới trên cao của vùng trời quốc gia. Đường biên giới trên cao chưa được quy định rõ trong luật quốc tế cũng như luật quốc gia.

2.4 Vùng lòng đất

Là phần đất nằm dưới vùng đất, vùng nước của quốc gia. Vùng lòng đất dưới yùng đất và vùng nước quốc gia không được luật quốc tế và luật quốc gia quy định giới hạn chiều sâu. Trong khoa học luật quốc tế, tồn tại quan điểm rộng rãi cho rằng giới hạn chiều sâu của vùng lòng đất quốc gia phụ thuộc vào khả năng nghiên cứu và khai thác của quốc gia đó. Quan điểm này có mặt hạn chế ở chỗ, tạo ra sự bất bình đẳng trên thực tế giữa các quốc gia láng giềng trong việc khai thác tài nguyên thiên nhiên trong lòng đất. Luật quốc tế mặc nhiên thừa nhận vùng lòng đất kéo dài đến tận tâm trái đất.

Luật Minh Khuê (sưu tầm & biên tập)

>> Xem thêm:  Vùng nước quần đảo là gì ? Chế độ pháp lý vùng nước quần đảo