1. Lao động đặc thù là gì?

Lao động đặc thù là gi? Hiện nay thì có rất nhiều cách hiểu khác nhau về lao động đặc thù. Tuy nhiên thì chúng ta có thể hiểu một cách đơn giản và ngắn gọn đó là lao động đặc thù chính là đối tượng lao động có những đặc điểm riêng biệt về vật chất, tinh thần, chức năng sinh học và được quy định những chế độ lao động riêng

Theo quy định của Bộ luật Lao động thì các đối tượng này là 

- Lao động chưa thành niên : Là người lao động dưới 18 tuổi có khả năng lao động, giao kết hợp đồng lao động

- Lao động là người cao tuổi: là người lao động đã hết tuổi lao động theo quy định của pháp luật lao động

- Lao động là người tàn tật: Là lao động bị khiếm khuyết một phần hoặc nhiều bộ phận làm suy giảm chức năng khiến cho sinh hoạt và học tập gặp nhiều khó khăn

- Lao động nữ là người lao động có giới tính nữ, đủ 15 tuổi trở lên có khả năng lao.

 

2. Đặc điểm của lao động đặc thù

- Thứ nhất là về thể chất thì lao động đặc thù thường là các đối tượng có sức khỏe kém, không đủ hoặc chưa đủ khả năng lao động hoặc bị khiếm khuyết bộ phận chức năng nào đó trên cơ thể làm cho họ bị suy giảm khả năng lao động

- Đặc điểm thứ hai đó là về tinh thần: Người lao động bị ảnh hưởng về khả năng nhận thức và bị hạn chế điều khiển hành vi

- Đặc điếm thứ ba là về tâm sinh lý thì đặc điểm này được thể hiện thông qua giới tính, độ tuổi. 

 

3. Quy đinh về đối tượng lao động đặc thù. 

3.1. Những quy định pháp luật về lao động chưa thành niên. 

Quy định pháp luật về lao động chưa thành niên được quy định ở điều 143 đến 147 bộ luật lao động năm 2019. 

Lao động chưa thành niên là người lao động chưa đủ 18 tuổi. 

Về nguyên tắc sử dụng lao động chưa thành niên thì lao động chưa thành niên chỉ được làm công việc phù hợp với sức khỏe để đảm bảo sự phát triển thể lực, trí lực, nhân cách.  Người sử dụng lao động khi sử dụng lao động chưa thành niên có trách nhiệm quan tâm chăm sóc người lao động về các mặt lao động, sức khỏe học tập trong quá trình lao động. Bên cạnh đó khi sử dụng lao động chưa thành niên thì người sử dụng lao động phải có sự đồng ý của cha mẹ, hoặc là người giám hộ; lập sổ theo dõi riêng, ghi đầy đủ họ tên, ngày tháng năm sinh, công việc đang làm, kết quả những lần kiểm tra sức khỏe định kì và xuất trình khi có quan nhà nước có thẩm quyền. Và người sử dụng lao động phải tạo cơ hội để người lao động chưa thành niên được học văn hóa, giáo dục nghề nghiệp, đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ kỹ năng nghề. 

Khi người sử dụng lao động muốn sử dụng lao động chưa thành niên thì phải giao kết hợp đồng lao động bằng văn bản với người chưa đủ 15 tuổi và người đại diện theo pháp luật của người đó. Bố trí thời gian làm việc không làm ảnh hưởng đến thời gian học tập của ngườ chưa đủ 15 tuổi. Và có giấy khám sức khỏe của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền xác nhận sức khỏe của người chưa đủ 15 tuổi phù hợp với công việc và tổ chức kiểm tra sức khỏe định kì ít nhất một lần là trong 06 tháng. Bảo đảm điều kiện làm việc an toàn vệ sinh lao động 

Người sử dụng lao động không được tuyển dụng và sử dụng người chưa đủ 13 tuổi làm việc trừ các công việc nghệ thuật, thể dục, thể thao nhưng không làm tổn hại đến sự phát triển thể lực, trí lực nhân cách của người chưa đủ 13 tuổi và phải có sự đồng ý của cơ quan chuyên môn về lao động thuộc ủy ban nhân dân cấp tỉnh. 

Những công việc mà những người lao động từ 15 đến dưới 18 tuổi không được làm đó là  mang, vác, nâng các vật nặng vượt quá thể trạng của người chưa thành niên; sản xuất kinh doanh cồn, rượu bia, thuốc lá, chất tác động đến tinh thàn hoặc chất gây nghiện khác; công việc liên quan đến sản xuất sử dụng hoặc vật chuyển hóa chất khí gas, chất nổ; bảo trì, bảo dưỡng thiết bị máy móc; công việc phá dỡ các công trình xây dựng; nấu, thổi, đúc, cán, dập, hàn kim loại; lặn biển, đánh bắt thủy hải sản xa bờ, công việc khác gây tổn hại đến sự phát triển thể lực, trí lực và nhân cách của người chưa thành niên. 

 

3.2. Những quy định về lao động cao tuổi. 

Quy định về lao động cao tuổi thì được quy định tại điều 148 và điều 149 của bộ luật lao động năm 2019. 

Theo đó thì người lao động cao tuổi được hiểu là người lao động sau độ tuổi lao động theo quy định tại điều 169 sau đó tiếp tục tham gia vào quan hệ lao động, người lao động cao tuổi thì có quyền thỏa thuận với người sử dụng lao động về việc rút ngắn thời giờ làm việc hằng ngày hoặc áp dụng chế độ làm việc không trọn thời gian. Bên cạnh đó thì nhà nước luôn khuyến khích người lao động cao tuổi làm những công việc phù hợp với sức khỏe để đảm bảo quyền lao động và có thể sử dụng một cách có hiệu quả nhất nguồn nhân lực

Khi sử dụng người lao động cao tuổi thì hai bên có thể thỏa thuận giao kết nhiều lần hợp đồng lao động xác định thời hạn. Khi người lao động cao tuổi đang hưởng lương hưu theo quy định của luật bảo hiểm xã hội mà làm việc theo hợp đồng lao động mới thì ngoài quyền lợi đang hưởng theo chế độ hưu trí thì người lao động còn được hưởng tiền lương và các quyền lợi khác theo quy định của pháp luật hợp đồng lao động

Đối với những công việc người lao động cao tuổi làm thì người lao động cao tuổi sẽ không được làm những công việc nặng nhọng, độc hại, nguy hiểm hoặc đặc biệt nặng nhọc có ảnh hưởng xấu đến sức khỏe của người lao động. 

Khi sử dụng người lao động cao tuổi thì người sử dụng người lao động cao tuổi sẽ phải có trách nhiệm quan tâm chăm sóc sức khỏe của người lao động cao tuổi tại nơi làm việc. 

 

3.3. Lao động là người khuyết tật

Lao động là người khuyết tật là một lao động đặc biệt, hiện nay thì nhà nước luôn luôn cố gắng để tạo công việc làm cho những người lao động khuyết tật, có những chính sách khuyến khích, ưu đãi phù hợp đối với người sử dụng lao động trong tạo việc làm và nhận người lao động là người khuyết tật vào làm việc theo quy định của pháp luật về người khuyết tật 

Khi sử dụng người lao động là người khuyết tật thì người sử dụng lao động phải đảm bảo được điều kiện lao động, công cụ lao động, an toàn vệ sinh lao động và tiến hành khám sức khỏe định kì phù hợp với người lao động khuyết tật, Luôn tham khảo ý kiến của người lao động khuyết tật về những vấn đề liên quan đến quyền lợi của họ

Tại bộ luật lao động năm 2019 có quy định về các hành vi bị nghiêm cấm khi sử dụng lao động là người khuyết tật. Theo đó người sử dụng lao động là người khuyết tật nhẹ suy giảm khả năng lao động từ 51% trở lên khuyết tật nặng hoặc khuyết tật đặc biệt nặng làm thêm giờ, làm vào ban đêm trừ trường hợp mà người lao động khuyết tật họ đồng ý. Thứ hai là người sử dụng lao động sử dụng người lao đông khuyết tật vào công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm theo danh mục do bộ trưởng bộ lao động- thương binh và xã hội ban hành mà không có sự đồng ý của người khuyết tật sau khi đã được người sử dụng lao động cung cấp đầy đủ thông tin về việc đó. 

 

3.4. Một số quy định pháp luật đối với lao động nữ. 

Đối với lao động là lao động nữ thì pháp luật có nhiều quy đinh nhằm đảm bảo quyền lợi của lao động nữ. Như là thể hiện sự công bằng giữa lao động nam và lao động nữ, về chế độ thai sản

Người sử dụng lao động phải đảm bảo quyền bình đẳng của lao động nữ, lao động nam thực hiện các biện pháp bảo đảm bình đẳng giới và phòng chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc. Bên cạnh đó thì luôn khuyến khích người sử dụng lao động nữ có việc làm thường xuyên. Có chính sách giảm thuế đối với người lao động nữ theo quy định của pháp luật về thuế. 

Đối với bản thân người sử dụng lao động thì họ phải tiến hành tham khảo ý kiến của loa động nữ hoặc là đại diện của họ khi quyết định những vấn đề liên quan đến quyền lợi của phụ nữ. Đảm bảo có đủ buồng tắm và buồng vệ sinh phù hợp tại nơi làm việc. 

Quyền lợi của lao động nữ được thể hiện rõ nét thông qua các chế độ liên quan đến thai sản

Về bảo vệ thai sản thì đối với lao động nữ mang thai từ tháng thứ 07 hoặc từ tháng thứ 06 nếu làm việc ở vùng cao, vùng sâu, vùng xa biên giới hải đảo, lao động nữ đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi, trừ trường hợp lao động nữ đồng ý thì người sử dụng lao động không được sử dụng lao động nữ làm việc ban đêm làm thêm giờ. 

Lao động nữ làm nghề, công việc nặng nhọc độc hại nguy hiểm hoặc đặc biệt nặng nhọc độc hai, nguy hiểm hoặc làm nghề, công việc có ảnh hưởng xấu tới chứng năng sinh sản và nuôi con khi mang thai và có thông báo cho người sử dụng lao động biết thì được sử dụng lao động chuyển sang làm công việc nhẹ nhàng và an toàn hơn hoặc là giảm bớt 01 giờ làm việc hàng ngày mà không bị cắt giảm tiền lương và quyền và lợi ích cho đến hết thời gian nuôi con dưới 12 tháng tuổi. 

Người sử dụng lao động sẽ không được sa thải hoặc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động đối với người lao động vì lý do kết hôn, mang thai, nghỉ thai sản, nuôi con dưới 12 tháng tuổi . Nếu trong trường hợp mà hợp đồng lao động hết hạn trong thời gian lao động nữ mang thai hoặc nuôi con dưới 12 tháng tuổi thì được ưu tiên giao kết hợp đồng lao động mới. 

Đối với những lao động nữ trong thời gian hành kinh được nghỉ mỗi ngày 30 phút trong thời gian nuôi con dưới 12 tháng tuổi thì được nghỉ mỗi ngày 60 phút trong thời gian làm việc, thời gian nghỉ vẫn được hưởng đủ tiền lương theo hợp đồng lao động. 

Nghỉ thai sản

Lao động nữ được nghỉ trước và sau sinh con là 06 tháng thời gian nghỉ trước khi sinh là không quá 02 tháng nếu lao động sinh đôi trở lên thì tính từ con thứ hai trở đi người mẹ được nghỉ thêm 01 tháng/ con

Trong thời gian nghỉ thai sản thì người lao động nữ sẽ được hưởng chế độ thai sản theo quy định của pháp luật bảo hiểm xã hội. Khi hết thời gian nghỉ theo quy định nếu có nhu cầu, người lao động nữ có thể nghỉ thêm một thời gian không hưởng lương sau khi thỏa thuận với người sử dụng lao động. 

Lao động nữ có thể trở lại làm việc khi nghỉ ít nhất được 04 tháng khi có đủ các điều kiện như sau:

- Cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền sác nhận đi làm sớm không có hại cho sức khỏe

- Báo trước cho người sử dụng lao động và được người sử dụng lao động đồng ý. 

Đảm bảo việc làm cho lao động nghỉ thai sản. Hiện nay thì có rất nhiều lao động nữ họ thắc mắc rằng liệu rằng sau khi họ nghỉ thai sản thì khi họ quay trở lại làm việc có được bảo đảm các quyền lợi và công việc như cũ hay không. Để trả lời cho câu hỏi này thì chúng ta có thể tìm hiểu tại điều 140 thì có quy định về bảo đảm việc làm cho lao động nữ theo đó lao động nữ được bảo đảm việc làm cũ khi trở lại làm việc sau khi nghỉ hết thời gian theo quy định mà không bị cắt giảm tiền lương và quyền, lợi ích so với trước khi nghỉ thai sản. Trong trường hợp việc làm cũ không còn thì người sử dụng lao động phải bố trí việc làm khác cho họ với mức lương không được thấp hơn so với mức lương họ hưởng trước khi nghỉ thai sản. 

Trên đây là toàn bộ những nội dung mà chúng tôi muốn cung cấp cho các bạn liên quan đến lao động đặc thù, mong rằng những nội dung mà chúng tôi cung cấp đã giúp ích cho các bạn trong việc tìm hiểu về lao động đặc thù. Nếu có những thắc mắc gì liên quan đến những lao động này thì các bạn có thể liên hệ trực tiếp với chúng tôi thông qua số điện thoại của tổng đài 19006162 để được tư vấn hướng dẫn một cách nhanh chóng nhất có thể. Cảm ơn các bạn đã quan tâm và theo dõi.