1. Khái niệm về lợi suất khi đáo hạn (YIELD TO MATURITY):

Một trong những vấn đề hết sức quan trọng trong đời sống kinh tế là lãi suất. Lãi suất là giá cả của khoản cho vay được tính bằng tỷ lệ % trên số tiền cho vay mà người đi vay phải trả cho chủ nợ tức người cho vay để sử dụng tiền trong một thời gian nhất định. Lãi suất thị trường tác động mạnh mẽ đến nhiều quyết định của mỗi cá nhân trong việc tiêu dùng và tiết kiệm. Nó cũng là yếu tố quan trọng tác động đến quyết định đầu tư của các doanh nghiệp. Khi người cho vay hy vọng sau một thời gian nhất định, sẽ thu được một số tiền nhiều hơn, họ phải hy sinh quyền sử dụng khoản tiền đó trong một thời gian và phải chấp nhận những rủi ro có thể xảy ra như lạm phát hoặc người vay có thể mất khả năng thanh toán. Đầu tư cũng có nghĩa là bỏ tiền ra ở thời điểm hiện tại để hy vọng trong tương lai đạt được thu nhập nhiều hơn số tiền đã bỏ ra. Do vậy để đi đến quyết định đầu tư cần phải hiểu thấu đáo vấn đề lãi suất trong mối quan hệ giữa tiền và thời gian. Nắm vững lãi suất và các vấn đề liên quan đến lãi suất cho phép xem xét sâu sắc hơn các khía cạnh của vấn đề đầu tư dài hạn nói chung cũng như đầu tư chứng khoán nói riêng.

Lợi suất khi đáo hạn (YIELD TO MATURITY) là lợi nhuận phần trăm hàng năm của trái phiếu nắm giữ cho đến ngày đáo hạn quy định. Đây là một phương pháp thường được chấp nhận để so sánh lợi suất trên trái phiếu với phiếu lãi suất các chứng khoán khác nhau, bởi vì nó giả định thu nhập tiền lãi sẽ được tái đầu tư với lợi suất hiện tại, và có xét đến bất kỳ điều chỉnh nào về phần bù hay chiết khấu trái phiếu. Vì lý do này mà nó khác với lợi suất hiện tại, có thể cao hơn hoặc thấp hơn.

Niêm yết lợi suất khi đáo hạn cũng có thể khác với lợi suất thực sự của nhà đầu tư khi đáo hạn, bởi vì chúng giả định luôn tái đầu tư tiền lãi với lợi suất niêm yết hiện tại. Điều này có thể chính xác hoặc không, nếu trái phiếu được bán với mức giá cao hơn hoặc thấp hơn giá danh nghĩa hoặc mệnh giá. Để tiện tham khảo, lợi suất khi đáo hạn của trái phiếu nào đó có thể tìm thấy trong các bảng trái phiếu được phát hành bởi các nhà xuất bản về tài chính. Một số loại máy tính có chức năng lập trình có thể được sử dụng để tính toán lợi suất đáo hạn. Còn được gọi là lợi suất hiệu quả (effective rate of return).

YUAN (RENMINBI YUAN): đơn vị tiền tệ của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa

ZAIRE đơn vị tiền tệ của Zaire.

Ví dụ:

Ngày 29/3/2016, trái phiếu chính phủ (TPCP) với lãi suất định kỳ 8% và thời gian
đến khi đáo hạn 5 năm có giá thanh toán là 95.
– Lợi suất đến khi đáo hạn: y = 9,295%
– Thời hạn: D = 4,292
– Thời hạn hiệu chỉnh: Dmod = 3,927

Cách Hiểu:
- Lãi suất định kỳ 8%/năm, còn được gọi là lãi suất danh nghĩa.
Nếu lãi suất đến khi đáo hạn tăng từ 9,295 → 9,495. Ở ngoài thị trường người ta gọi là, Trái phiếu tăng lên 0,2 điểm.
Vậy 0,2 điểm lấy từ đâu?
Nó được lấy từ: 9,495 - 9,295 = 0,2
Nếu: Lợi suất tăng thêm 0,2 điểm %, từ 9,295% lên 9,495%
Ta có: (9,495 - 9,295)/9,295 = 0,0215 (∆y = 0,2%).
Từ công thức thời hạn, ta có thể tính tỷ lệ thay đổi giá. Cụ thể, tỷ lệ thay đổi giá trái phiếu sẽ bằng:∆P/P = - Dmod*∆y = - 3,927*0,2% = - 0,785%
Mức thay đổi giá trái phiếu giảm đi:

∆P = -0,785%*95 = - 0,756
Kiểm chứng bằng công thức định giá trái phiếu:
Lợi suất khi đáo hạn (YIELD TO MATURITY) là gì ? Các nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến giá trị thị trường của trái phiếu.
∆P = 94,258 - 95 = -0,742

2. Ý nghĩa của lợi suất đáo hạn:

Lợi suất đáo hạn nêu trên cũng chính là một lãi suất hoàn vốn nên xác định lợi suất đáo hạn cũng sử dụng phương pháp thử hoặc phương pháp nội suy.

- Lợi suất đáo hạn là đại lượng được sử dụng rất thường xuyên để đo lường mức sinh lời của trái phiếu

Trên thị trường trái phiếu ở nhiều nước lợi suất đáo hạn của trái phiếu chủ yếu được niêm yết hàng ngày được công bố trên báo chí.

- Việc tính toán lợi suất đáo hạn - YTM không chỉ tính tới tiền lãi hiện tại mà còn tính tới bất kì khoản lỗ/lãi nào mà nhà đầu tư sẽ gặp phải bằng việc giữ trái phiếu cho đến ngày đáo hạn.

Thêm vào đó, YTM còn xem xét tới thời gian của dòng tiền. Mối quan hệ giữa trái phiếu, lãi suất coupon, lợi suất hiện hành và lợi suất đáo hạn như sau:

 

Trái phiếu được bán tại Mối quan hệ
Mệnh giá Lãi suất coupon = lợi suất hiện hành = lợi suất đáo hạn
Dưới mệnh giá Lãi suất coupon < lợi suất hiện hành < lợi suất đáo hạn
Trên mệnh giá Lãi suất coupon > lợi suất hiện hành > lợi suất đáo hạn

3. Hạn chế của lợi suất đáo hạn:

Hạn chế của việc đo lường lợi suất đáo hạn là ở chỗ nó phải đáp ứng hai giả thiết:

- Thứ nhất: tiền lãi trái phiếu sẽ được tái đầu tư ở lợi suất đáo hạn. Với giả thiết thứ nhất, nhà đầu tư sẽ phải đối mặt với lãi suất tương lai thấp hơn lợi suất đáo hạn tại thời điểm mua trái phiếu. Rủi ro này được biết tới là loại rủi ro tái đầu tư.

- Thứ hai: trái phiếu được giữ cho tới ngày đáo hạn. Nếu trái phiếu không giữ đến ngày đáo hạn nhà đầu tư sẽ đối mặt với rủi ro có thể phải bán trái phiếu thấp hơn giá mua trái phiếu dẫn tới lợi tức nhận được sẽ thấp hơn lợi tức đáo hạn. Đó là rủi ro lãi suất.

4. Lãi suất danh nghĩa và lãi suất hiện hành:

Một trong những yếu tố quan trọng hàng đầu mà người đầu tư quan tâm khi quyết định đầu tư vào trái phiếu hay vào bất kỳ loại chứng khoán nào khác là mức độ sinh lời của chứng khoán. Có nhiều đại lượng đo lường mức độ sinh lời của trái phiếu.

- Lãi suất danh nghĩa: Lãi suất danh nghĩa của trái phiếu như trên đã nêu cho biết tỷ lệ lãi mà người phát hành hứa trả cho người mua trái phiếu và được tính theo mệnh giá. Tuy nhiên, lãi suất danh nghĩa chưa cho biết mức sinh lời thực của trái phiếu, nó chưa tính đến yếu tố giá mua trái phiếu mà người đầu tư phải bỏ ra cũng như ảnh hưởng của tỷ lệ lạm phát.

- Lãi suất hiện hành: Lợi suất hiện hành là thu nhập hàng năm của một khoản đầu tư chia cho giá hiện hành của chứng khoán. Do đó, lợi suất hiện hành của một trái phiếu là tiền lãi hàng năm chia cho giá hiện hành của trái phiếu đó. Lợi suất hiện hành kiểm tra giá hiện hành của trái phiếu, thay vì nhìn vào mệnh giá của nó. Lợi suất hiện hành thể hiện phần lợi nhuận mà một nhà đầu tư mong muốn kiếm được, nếu chủ sở hữu mua trái phiếu và giữ nó trong một năm. Tuy nhiên, lợi suất hiện hành không phải là lợi nhuận thực tế mà một nhà đầu tư nhận được nếu anh ta nắm giữ trái phiếu cho đến khi đáo hạn.

5. Mối quan hệ giữa lãi suất thị trường, giá trái phiếu và các lãi suất của trái phiếu đang lưu hành:

Khi trái phiếu được lưu hành, giá của trái phiếu được hình thành trên thị trường do cung và cầu quyết định. Một số yếu tố tác động trực tiếp đến giá trái phiếu hiện hành là lãi suất thị trường. Sự biến động lãi suất thị trường sẽ dẫn đến trực tiếp đến giá trái phiếu hiện hành nhưng ngược chiều với sự biến động của lãi suất. Khi lãi suất thị trường tăng cao hơn lãi suất danh nghĩa của trái phiếu, thì giá của trái phiếu sẽ giảm đi và sẽ thấp hươn mệnh giá. Bởi vì người nắm giữ trái phiếu đó chỉ được hưởng một lãi suất hiện hành ở mức thấp có xu hướng bán trái phiếu đó để đầu tư vào nơi khác có mức lãi suất cao hơn. Từ đó, sẽ giảm cầu và giá của trái phiếu hiện hành sẽ giảm xuống. Ngược lại, khi lãi suất thị trường giảm thì giá của trái phiếu hiện hành sẽ tăng.

Khi giá trái phiếu hiện hành thay đổi thì các lãi suất của trái phiếu cũng thay đổi. Có thể thấy mối quan hệ giữa lãi suất thị trường, giá trái phiếu và các lãi suất của trái phiếu như sau:

- Khi lãi suất thị trường bằng lãi suất danh nghĩa của trái phiếu thì giá của trái phiếu đang lưu hành được bán bằng với mệnh giá của nó và khi đó lãi suất danh nghĩa của trái phiếu bằng với lợi tức hiện hành và bằng với lãi suất đáo hạn.

- Khi lãi suất thị trường tăng và cao hơn lãi suất danh nghĩa của trái phiếu thì giá trái phiếu đang lưu hành sẽ giảm và thấp hơn mệnh giá, khi đó lãi suất danh nghĩa nhỏ hơn lãi suất hiện hành và nhỏ hơn lãi suất đáo hạn của trái phiếu.

- Khi lãi suất thị trường giảm và thấp hơn lãi suất danh nghĩa thì giá trái phiếu đang lưu hành sẽ tăng và cao hơn mệnh giá, khi đó lãi suất danh nghĩa của trái phiếu sẽ cao hơn lãi uất hiện hành và cao hơn lãi suất đáo hạn của trái phiếu.

- Càng tiến tới gần ngày đáo hạn, thì giá của trái phiếu đang lưu hành có xu hướng càng tiếp cận dần gần với mệnh giá của nó , ngoại trừ trái phiếu của các công ty có nguy cơ mất khả năng thanh toán hay phá sản.

6. Các nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến giá trị thị trường của trái phiếu:

Cũng giống như các hàng hóa khác, giá của trái phiếu được hình thành trên thị trường do cung và cầu quyết định. Mặc dù trái phiiu là loại chứng khoán mà lợi tức danh nghĩa và thời hạn hoàn trả được xác định, nhưng giá cả của nó trên thị trường vẫn thường xuyên biến động. Điều đó là do cung và cầu về trái phiếu trên thị trường. Có nhiều nhân tố tác động đến cung và cầu về trái phiếu, từ đó ảnh huổng tới giá cả của nó. Có thể thấy một số nhân tố chủ yếu sau đây ảnh hưởng tới giá thị trường của trái phiếu:

- Sự biến động của lãi suất thị trường: Lãi suất là nhân tố cực kỳ quan trọng ảnh hưởng đến giá thị trường của trái phiếu. Như phần trên đã cho thấy, giá cả của trái phiếu biến động ngược chiều với sự biến động của lãi suất. Khi lãi suất lên cao và sẽ gây ra sự giảm giá của trái phiếu đang lưu hành và ngược lại. Trong thực tế, quá trình tác động của lãi suất đến giá các trái phiếu diễn ra không đơn giản.

- Những thay đổi về tình trạng tài chính của người phát hành: Đây là nhân tố gây ảnh hổng khá lớn đến thị trường của trái phiếu, nếu trong thời gian trái phiếu chưa đáo hạn, có những dấu hiệu không tốt hoặc có những nghi ngờ khả năng thanh toán tiền lãi và tiền gốc cảu người phát hành sẽ làm cho các nhà đầu tư né tránh đầu tư vào trái phiếu đó. Bởi lẽ người ta cho rằng rủi ro vỡ nợ đới với loại trái phiếu đang tăng cao và kết quả là làm cho giá trái phiếu đó giảm xuống đáng kể.

- Lạm phát dự tính: Khi lạm phát dự tính xảy ra sẽ làm lãi suất thị trường có xu hướng sẽ tăng lên. Khi đó giá của các chứng khoán đang lưu hành phải giảm xuống để cho lãi suất hiện hành của trái phiếu tăng lên cân bằng với lãi suất thị trường.

Trên đây là bài viết của công ty Luật Minh Khuê về lợi suất đáo hạn và các nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến giá trị thị trường của trái phiếu. Nếu còn vấn đề gì vướng mắc liên quan đến pháp lý quý khách có thể liên hệ đến tổng đài Luật Minh Khuê để được hỗ trợ. Trân trọng./