Luật hàng không dân dụng Việt Nam là đạo luật chứa đựng hệ thống các quy phạm pháp luật quy định và điều chỉnh những quan hệ pháp lí liên quan tới hoạt động hàng không dân dụng, nhằm bảo đảm an toàn hàng không, khai thác có hiệu quả các tiềm năng về hàng không, góp phần thúc đẩy và phát triển kinh tế, mở rộng giao lưu và hợp tác quốc tế, được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam Khoá VIII, kì họp thứ 10 thông qua ngày 26.12.1991, có hiệu lực kể từ ngày 01.6.1992.

Hoạt động hàng không dân dụng nói tại Luật này ẫ bao gồm những hoạt động nhằm sử dụng tàu bay vào mục đích vận chuyển hàng hoá, bưu kiện, bưu phẩm và các hoạt động kinh tế khác, phục vụ nghiên cứu khoa học, hoạt động văn hoá, thể thao, y tế, tìm kiếm, cứu nguy và các hoạt động dân dụng

khác. Luật này không áp dụng đối với tàu bay của lực lượng vũ trang, hải quan và các tàu bay khác chuyên dùng cho mục đích công vụ nhà nước.

Phạm vi điều chỉnh của Luật hàng không dân dụng bao gồm mọi tổ chức, cá nhân trong nước thuộc mọi thành phần kinh tế được kinh doanh hàng không; tổ chức, cá nhân nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài hợp tác, đầu tư trong lĩnh vực hàng không dân dụng tại Việt Nam.

Đối tượng điều chỉnh hoạt động hàng không dân dụng trên lãnh thổ Việt Nam; hoạt động hang không dân dụng ngoài lãnh thổ Việt Nam; hoạt động hàng không dân dụng nước ngoài tại Việt Nam. Sau khi Hiến pháp năm 1992 ra đời, nhằm tăng cường sự quản lí nhà nước về hàng không dân dụng, bảo đảm cho các hoạt động trong lĩnh vực hàng không dân dụng được tiến hành đúng pháp luật, có kế hoạch, trật tự, phù hợp với thời kì đổi mới, đặc biệt là phù hợp với xu thế hội nhập quốc tế về hoạt động hàng không, Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam Khoá IX, kì họp thứ 7 ngày 20.4.1995 đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật hàng không dân dựng Việt Nam. Về bố cục, Luật hàng không dân dụng Việt Nam gồm lời nói đầu, 10 chương với 112 điều, gồm những nội dung cơ bản sau đây: những quy định chung; tàu bay; cảng hàng không, sân bay; tổ bay; hoạt động bay; vận chuyển hàng không; trách nhiệm bồi thường; thanh tra an toàn hàng không; xử lí vi phạm và giải quyết tranh chấp; điều khoản cuối cùng. Kế thừa Luật hàng không dân dụng năm 1991, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật hàng không dân dụng Việt Nam đã có những điểm mới cơ bản so với Luật hàng không dân dụng Việt Nam năm 1991, đó là xác định rõ vai trò của Nhà nước trong việc quản lí hoạt động hàng không dân dụng; bổ sung các quy định về điều tra tai nạn tàu bay, về doanh nghiệp vận chuyển hàng không phù hợp với quy định của Luật doanh nghiệp nhà nước; về giá cước, về bồi thường thiệt hại, về bảo hiểm bắt buộc, bảo hiểm an ninh hàng không của các cơ quan quản lí nhà nước chuyên ngành hàng không.