Luật tài chính công là bộ phận của luật tài chính, tổng thể các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh từ hoạt động tài chính, thu chỉ của Nhà nước.

Tuỳ thuộc vào sự phân chia hệ thống pháp luật ở mỗi nước mà các bộ phận pháp luật tài chính được xem là một ngành luật hoặc chia ra thành các ngành luật.

Hệ thống pháp luật của các nước theo hệ pháp luật châu Âu lục địa được chia thành công pháp và tư pháp thì luật tài chính thuộc luật công. Trong một thời gian dài bộ phận pháp luật điều chỉnh các quan hệ quản trị tài chính công được quan niệm là bộ phận cấu thành của luật hành chính. Do đó, cho đến cuối thế kỉ XIX, các cuốn sách giáo khoa về luật hành chính được ấn hành ở những nước này đều dành những chương cuối viết về luật tài chính công và thuế. Cùng với sự phát triển của nền văn minh nhân loại, các hoạt động của Nhà nước trong lĩnh vực tài chính cũng ngày càng phát triển đa dạng và phức tạp. Tương ứng với sự phát triển đó, bộ phận pháp luật điều chỉnh các quan hệ quản trị tài chính công cũng được chú trọng hơn. Điều đó dẫn đến hệ quả là bộ phận pháp luật điều chỉnh các quan hệ quản trị tài chính công ngày càng phát triển và có vị trí độc lập tương đối trong hệ thống pháp luật và được gọi là luật tài chính công. Luật tài chính công bao gồm các bộ phận cấu thành chủ yếu như sau: bộ phận pháp luật điều chỉnh các quan hệ phát sinh từ hoạt động của Nhà nước trong lĩnh vực ngân sách nhà nước; bộ phận pháp luật quy định địa vị pháp lí của các định chế tài chính công (ngân hàng trung ương, ngân khố quốc gia...) của doanh nghiệp công.

Trong xã hội tư sản, từ thế kỉ XIX trở về trước, tài chính công được hình thành trên nền tảng của nền kinh tế tự do cạnh tranh. Nhà nước lúc đó tách biệt chức năng chính trị với hoạt động kinh tế. Tài chính công chỉ là để phục vụ cho các hoạt động đơn thuần về mặt chính trị của Nhà nước. Sau chiến tranh thế giới lần thứ nhất, đặc biệt từ sau cuộc khủng hoảng kinh tế năm 1929 - 1933, vai trò của Nhà nước tư sản đã thay đổi, chức năng kinh tế ngày càng được chú trọng song song với chức năng chính trị vốn có.

Hệ thống pháp luật của các nước xã hội chủ nghĩa dựa vào tiêu chí là đối tượng điều chỉnh và phương pháp điều chỉnh, được phân chia thành các ngành luật, trong đó có luật tài chính. Luật tài chính được quan niệm là tổng hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình lập, phân phối và sử dụng có kế hoạch các quỹ tiền tệ của Nhà nước, cần thiết cho việc thực hiện chức năng của Nhà nước xã hội chủ nghĩa. Trong cơ chế kinh tế kế hoạch hoá tập trung, Nhà nước xã hội chủ nghĩa nắm độc quyền kinh doanh bảo hiểm và ngân hàng nên các quan hệ xã hội phát sinh trong các lĩnh vực này cũng mang đặc tính là quan hệ quản lí nhà nước. Do đó, ở các nước xã hội chủ nghĩa trong thời kì này, luật tài chính được quan niệm bao gồm các bộ phận: pháp luật về ngân sách nhà nước và thuế; pháp luật về tài chính của các doanh nghiệp nhà nước và các ngành kinh tế quốc dân; pháp luật về tín dụng nhà nước; pháp luật về bảo hiểm nhà nước (bảo hiểm thương mại); pháp luật về ngân hàng.

Ở Việt Nam hiện nay, việc phân chia hệ thống pháp luật còn có một số quan điểm khác nhau. Do đó, các quan niệm về cấu trúc của mô hình luật tài chính công được hiểu theo một nghĩa tương đối Trong Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2001-2010 của Chính phủ, đã xem cải cách tài chính công là một trong bốn nội dung cơ bản của Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước.