Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục Tư vấn pháp luật doanh nghiệp của công ty Luật Minh Khuê.

Mai mối hẹn hò có phải là một nghề hợp pháp ở Việt Nam?

Luật sư tư vấn pháp luật doanh nghiệp gọi: 1900.6162

Trả lời:

Thưa quý khách hàng, Công ty Luật TNHH MINH KHUÊ xin gửi tới quý khách hàng lời chào trân trọng và cảm ơn quý khách đã tin tưởng vào dịch vụ do chúng tôi cung cấp. Vấn đề bạn đang vướng mắc chúng tôi xin được tư vấn như sau:

I. Cơ sở pháp lý

- Nghị định 110/2013/ NĐ- CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp, hành chính tư pháp, hôn nhân và gia đình, thi hành án dân sự, phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã.

- Quyết định số 27/2018/QĐ về việc ban hành quy định nội dung hệ thống ngành kinh kế của Việt Nam

- Nghị định 126/2014/NĐ-CP Quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật hôn nhân và gia đình

​II. Nội dung phân tích

Trước hết, hôn nhân là sự tự nguyện của một nam và một nữ dựa trên tình yêu chân chính và khi họ đủ độ tuổi theo quy định pháp luật thì họ xác định chung sống cùng nhau, cùng nhau tạo lập một gia đình lúc này quan hệ hôn nhân được xác lập trên cơ sở quy định của pháp luật và quan hệ đó được pháp luật công nhận, bảo vệ.

Tại khoản 5 điều 28 Nghị định 110/2013 quy định xử phạt về hành vi hoạt động môi giới kết hôn trái pháp luật: “Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng đối với hành vi môi giới kết hôn trái pháp luật”.

Theo quy định tại khoản 1 Điều 7 Nghị định 78/2015/NĐ-CP thì : "Khi đăng ký thành lập doanh nghiệp, khi thông báo bổ sung, thay đổi ngành, nghề kinh doanh hoặc khi đề nghị cấp đổi sang Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, người thành lập doanh nghiệp hoặc doanh nghiệp lựa chọn ngành kinh tế cấp bốn trong Hệ thống ngành kinh tế của Việt Nam để ghi ngành, nghề kinh doanh trong Giấy đề nghị đăng ký doanh nghiệp, Thông báo thay đổi nội dung đăng ký doanh nghiệp hoặc giấy đề nghị cấp đổi sang Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp. Cơ quan đăng ký kinh doanh hướng dẫn, đối chiếu và ghi nhận ngành, nghề kinh doanh của doanh nghiệp vào Cơ sở dữ liệu quốc gia về đăng ký doanh nghiệp".

Hơn nữa, trong quy định tại Quyết định 27/2018/QĐ chỉ quy định mã ngành: 9633 Hoạt động dịch vụ phục vụ hôn lễ có nghĩa là chỉ được đăng ký kinh doanh các hoạt động để nhằm phục vụ hôn lễ như: Ban nhạc, phông, loa đài, cỗ cưới, cỗ ăn hỏi,….

Và chi tiết cụ thể nhóm này gồm: Hoạt động mang tính xã hội như môi giới hôn nhân, tổ chức và phục vụ đám cưới, đám hỏi...

Như vậy, hoạt động phục vụ hôn lễ là hoạt động mang tính xã hội, nhằm phục vụ hôn lễ, và hiện tại chưa có mã ngành nghề nào liên quan đến dịch vụ kinh doanh mai mối, hẹn hò.

Theo đó, đối với việc kinh doanh ngành nghề chưa có mã được quy định trong hệ thống ngành kinh tế của Việt Nam và chưa được quy định trong các văn bản pháp luật khác thì "cơ quan đăng ký kinh doanh xem xét ghi nhận ngành, nghề kinh doanh này vào Cơ sở dữ liệu quốc gia về đăng ký doanh nghiệp nếu không thuộc ngành, nghề cấm đầu tư kinh doanh, đồng thời thông báo cho Bộ Kế hoạch và Đầu tư (Tổng cục Thống kê) để bổ sung ngành, nghề kinh doanh mới" (khoản 5 Điều 7 Nghị định 78/2015/NĐ-CP).

Tuy nhiên, trong hệ thống ngành kinh tế Việt Nam có quy định mã ngành 9633: Hoạt động dịch vụ phục vụ hôn lễ thì có dịch vụ như môi giới hôn nhân. Việc mai mối hẹn hò dựa trên việc tư vấn và bảng câu hỏi, qua phân tích phần trăm có hợp nhau hay không có thể được xem là ngành nghề chi tiết hơn ngành nghề hoạt động dịch vụ phục vụ hôn lễ. Đồng thời, việc phân tích dựa trên các ý kiến tư vấn của khách hàng và bảng câu hỏi cần phải có sự kiểm duyệt của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Do đó, anh hoàn toàn có thể đăng ký ngành nghề mai mối hẹn hò, nhưng phải ghi mã ngành nghề 9633 trong giấy phép thành lập doanh nghiệp, đồng thời ghi chi tiết nội dung ngành nghề mà anh đang muốn kinh doanh.

Đồng thời, theo Điều 52 Nghị định 126/2014 thì pháp luật chỉ quy định thành lập Trung tâm tư vấn, hỗ trợ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài trên nguyên tắc phi lợi nhuận:

Điều 52. Nguyên tắc hoạt động tư vấn, hỗ trợ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài

1. Hoạt động của Trung tâm phải bảo đảm nguyên tắc phi lợi nhuận, góp phần làm lành mạnh hóa quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài, phù hợp với nguyên tắc cơ bản của chế độ hôn nhân và gia đình Việt Nam, thuần phong mỹ tục của dân tộc.

2. Các bên kết hôn có quyền được tư vấn, hỗ trợ về hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài. Việc tư vấn, hỗ trợ không phụ thuộc vào quốc tịch, nơi cư trú của người có yêu cầu.

3. Nghiêm cấm lợi dụng việc tư vấn, hỗ trợ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài nhằm mua bán người, bóc lột sức lao động, xâm phạm tình dục hoặc vì mục đích trục lợi khác.

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về vấn đề mà bạn đang quan tâm. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra bản tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo.

Trường hợp trong bản tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong bản tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề, rất mong nhận được phản ánh của quý khách tới địa chỉ email: Tư vấn pháp luật doanh nghiệp qua Email hoặc tổng đài tư vấn trực tuyến 1900.6162. Chúng tôi sẵn sàng giải đáp.

Trân trọng!

Bộ phận tư vấn luật doanh nghiệp