1. Khái quát về mẫu cáo trạng của Viện kiểm sát?
Mẫu cáo trạng của Viện trường Viện kiểm sát là mẫu với các thông tin soạn ra với nội dung là những căn cứ cụ thể dựa trên cơ sở pháp luật Việt Nam để từ đó truy tố bị can ra trước tòa án theo quy định của pháp luật. Mẫu cáo trạng là mẫu bản cáo trạng được lập ra để ghi chép về nội dung của vụ án. Mẫu nêu rõ nội dung của vụ án, quyết định của viện kiểm sát… Mẫu được ban hành theo Quyết định 15/QĐ-VKSTC của Viện kiểm sát nhân dân tối cao.
Quy định tại Điều 243 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 về nội dung bản cáo trạng. Theo đó:
- Viện kiểm sát quyết định truy tố bị can trước Tòa án bằng bản cáo trạng.
.png)
- Bản cáo trạng ghi rõ diễn biến hành vi phạm tội; những chứng cứ xác định hành vi phạm tội của bị can, thủ đoạn, động cơ, mục đích phạm tội, tính chất, mức độ thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra; việc áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế; những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đặc điểm nhân thân của bị can; việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật và việc xử lý vật chứng; nguyên nhân và điều kiện dẫn đến hành vi phạm tội và tình tiết khác có ý nghĩa đối với vụ án.
- Phần kết luận của bản cáo trạng ghi rõ tội danh và điều, khoản, điểm của Bộ luật hình sự được áp dụng
- Bản cáo trạng phải ghi rõ ngày, tháng, năm ra cáo trạng; họ tên, chức vụ và chữ ký của người ra bản cáo trạng.
=> Như vậy, căn cứ quy định trên, ta thấy bản cáo trạng là văn bản của viện kiểm sát mà nội dung là những căn cứ để truy tố bị can trước tòa án.
- Viện Kiểm sát là cơ quan duy nhất được pháp luật hiện hành trao cho thẩm quyền ban hành bản cáo trạng
- Đối tượng của bản cáo trạng: là những hành vi vi phạm pháp luật của bị can.
2. Tải mẫu cáo trạng của Viện kiểm sát
=> Tải ngay: Mẫu cáo trạng của Viện kiểm sát
.png)
3. Nội dung của bản cáo trạng
Tên gọi thống nhất trong toàn ngành Kiểm sát về văn bản truy tố bị can trước tòa là “Cáo trạng”.
- Bản cáo trạng phải được lập theo mẫu số 144/ (Danh mục mẫu văn bản tố tụng, văn bản nghiệp vụ thực hiện trong công tác thực hành quyền công tố, kiểm sát việc khởi tố, điều tra và truy tố ban hành kèm theo Quyết định số 15/QĐ-VKSTC ngày 09 tháng 01 năm 2017 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao).
- Phần trên của tên cơ quan ban hành văn bản phải có tên cơ quan chủ quản là “Viện kiểm sát nhân dân tối cao” đối Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh và Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh đối với Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện.
- Thống nhất viết số, ký hiệu cáo trạng ở đơn vị cấp tỉnh như sau: “Số:.../CT-VKSBD-P1”, “Số:…/CT-VKSBD-P2”; đơn vị cấp huyện có 09 (chín) đơn vị thì: “Số:…/CT-VKS-TDM”, “Số:.../CT-VKS-TA”, “Số:…/CT-VKS-DA”,… (do cấp tỉnh có các phòng nghiệp vụ khác nhau nên viết tên đơn vị ban hành, còn mô hình cấp huyện có bộ phận hình sự, dân sự, khiếu nại tố cáo nên không cần viết cụ thể bộ phận),
- Ngôn ngữ, văn phạm trong bản cáo trạng là ngôn từ pháp lý, phổ thông nhưng phải được chọn lọc. Lập luận phải sắc bén, chặt chẽ và có tính thuyết phục cao, không tẩy xoá, viết thêm tuỳ tiện.
Về nội dung, bản cáo trạng phải dựa vào bản kết luận điều tra, trong đó ghi rõ:
+ Thông tin cơ bản của bản cáo trạng chẳng hạn như : Thời gian: ngày, tháng, năm xảy ra vụ việc; Địa điểm: nơi xảy ra tội phạm; Chủ thể: ai là người thực hiện hành vi phạm tội
Về nội dung bản cáo trạng: Theo mẫu cáo trạng số 144/HS của Viện kiểm sát nhân dân tối cao, bố cục bản cáo trạng gồm 04 (bốn) phần: phần nêu căn cứ pháp lý xác định việc truy tố của Viện kiểm sát; phần mô tả hành vi của bị can; phần kết luận và phần quyết định.
Phần nêu căn cứ pháp lý: Viện dẫn căn cứ khởi tố vụ án, các vụ án: nếu là vụ án hoặc các vụ án đã khởi tố có nhiều tội danh khác nhau thì viện dẫn căn cứ vụ án có tội danh đặc biệt nghiêm trọng trước, đến rất nghiêm trọng, tội nghiêm trọng và cuối cùng là tội ít nghiêm trọng. Viện dẫn đủ số, ngày, tháng, năm cơ quan ra quyết định khởi tố vụ án, tội danh, điều luật.
Viện dẫn căn cứ khởi tố bị can, các bị can, số, ngày, tháng, năm của cơ quan ra quyết định khởi tố bị can đối với “…” (họ, tên bị can) về tội “…” (ghi đầy đủ tội danh theo Bộ luật hình sự) quy định tại điều “…” khoản “…” Bộ luật hình sự.
- Đối với vụ án có nhiều bị can cùng phạm một tội thì chỉ ghi số, ngày, tháng, năm Cơ quan Cảnh sát Điều tra ra quyết định khởi tố đối với “…” (ghi đủ họ, tên tất cả các bị can đã được khởi tố) về tội “…” quy định tại điều khoản Bộ luật hình sự.
- Đối với vụ án có nhiều bị can phạm tội bị khởi tố theo các tội danh và điều khoản khác nhau, thời gian khởi tố khác nhau thì phải viện dẫn từng quyết định khởi tố bị can theo nguyên tắc bị can phạm tội đặc biệt nghiêm trọng đến rất nghiêm trọng, nghiêm trọng và ít nghiêm trọng. Nếu có bị can bị khởi tố nhiều loại tội theo nhiều quyết định khởi tố thì viện dẫn hết một lần, đảm bảo ngắn gọn dể hiểu, dễ nhớ.
Phần mô tả hành vi phạm tội của bị can : Nội dung hành vi phạm tội: Đây là phần trọng tâm nhất của bản cáo trạng có nhiều cách trình bày, nhưng phổ biến là theo cách quy nạp, diễn dịch, móc xích và tổng hợp.
- Diễn biến hành vi phạm tội của bị can: Khi viết diễn biến hành vi phạm tội phải trên cơ sở tổng hợp đánh giá tài liệu, chứng cứ của vụ án, nêu rõ diễn biến hành vi phạm tội từ khi bị can chuẩn bị công cụ phương tiện phạm tội, rủ đồng phạm, tiếp cận địa điểm phạm tội, phương pháp cách thức tiến hành …; phải cụ thể tỉ mĩ toát lên được thủ đoạn phạm tội của bị can; những tình tiết đó phải được xác định bằng chứng cứ, không chỉ dựa lời khai của bị can. Diễn biến hành vi phạm tội cần đi thẳng vào trọng tâm hành vi phạm tội của bị can từ khi nảy sinh ý định phạm tội, chuẩn bị phạm tội và thực hiện hành vi xâm hại…
- Về động cơ, mục đích phạm tội: đây là vấn đề thuộc mặt chủ quan trong cấu thành tội phạm.
+ Động cơ phạm tội: …
+ Mục đích: …
- Về thủ đoạn phạm tội, hành vi phạm tội của bị can phải được mô tả chính xác, đầy đủ, xúc tích, dễ hiểu. Các sự kiện, các hành vi được mô tả theo quá trình diễn biến của tội phạm, cần nêu rõ phương thức, thủ đoạn, công cụ, phương tiện phạm tội. Nếu thủ đoạn, phương tiện phạm tội là nguy hiểm được quy định là tình tiết định khung tăng nặng thì cần phải phân tích rõ. Ví dụ: với những hung khí như dao nhọn, búa, rìu, gạch, đá, thanh gỗ dài, chắc… được coi là hung khí nguy hiểm, là tình tiết định khung tăng nặng trong một số loại tội, vì vậy cần phải mô tả rõ trong bản cáo trạng.
- Hậu quả của hành vi phạm tội (hậu quả vật chất, thể chất, hậu quả tinh thần, các biến đổi khác).
- Việc quản lý vật chứng, xử lý vật chứng và tài sản có liên quan.
- Về trách nhiệm dân sự: Nêu rõ yêu cầu của người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có yêu cầu bị can bồi thường hay không.
- Các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Khi viết lồng ghép trong nội dung hành vi phạm tội. Ví dụ, tính chất côn đồ trong các vụ án gây thương tích viết rõ nguyên nhân, điều kiện trước khi xảy ra vụ án…
- Việc viện dẫn bút lục phải trên cơ sở tổng hợp nguồn chứng cứ theo từng giai đoạn diễn biến tội phạm. Không nên viện dẫn bút lục theo từng chứng cứ và cũng không viện dẫn bút lục theo kiểu liệt kê sau khi trình bày toàn bộ nội dung hành vi phạm tội. Sau phần mô tả hành vi của bị can, Kiểm sát viên phải viện dẫn các tài liệu, chứng cứ khác; những chứng cứ đưa ra phải được chọn lọc, có giá trị chứng minh như: kết luận giám định, biên bản khám nghiệm hiện trường, tử thi, tang vật, lời khai bị hại, lời khai người làm chứng… (có viện dẫn bút lục).
4. Ý nghĩa của bản cáo trạng
Bản cáo trạng là văn bản pháp lý thể hiện quan điểm của VKS về vụ án hình sự trên cơ sở kết quả hoạt động điều tra và ra quyết định truy tố bị can ra trước toà án để xét xử.
Nói cách khác, bản cáo trạng là văn bản pháp lý kết thúc giai đoạn điều tra và mở đầu một giai đoạn tố tụng mới, đó là giai đoạn xét xử sơ thẩm hình sự.
Theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự thì khi Viện kiểm sát đưa quyết định truy tố bị can thì có trách nhiệm thông báo, giao bản cáo trạng cho bị can theo quy định. Nếu trường hợp bị can nhất quyết từ chối không nghe và nhận cáo trạng, không ký nhận vào biên bản giao nhận cáo trạng. Như vậy, Viện kiểm sát vẫn đọc bản cáo trạng cho bị can nghe đồng thời lập biên bản về việc bị can không nhận bản cáo trạng này theo quy định và ghi rõ các nội dung theo quy định
Trong biên bản ghi rõ thời gian, ghi rõ địa điểm đọc cáo trạng cho bị can nghe và có chữ kí của người làm chứng khi bên phía viện kiểm sát đọc bản cáo trạng cho bị can nghe theo quy định. Bên cạnh đó bên phía Viện kiểm sát giao bản cáo trạng cho người nhà của bị can.
Đối với Việc bị can từ chối không nghe và nhận cáo trạng, không ký nhận vào biên bản giao nhận cáo trạng không ảnh hưởng tới việc chuyển giao hồ sơ sang Tòa án theo quy định. Việc từ chối không nghe và nhận cáo trạng, không ký nhận vào biên bản giao nhận cáo trạng chỉ làm ảnh hưởng tới quyền lợi của bị can.
Theo quy định trên thì khi viện kiểm sát ra quyết định truy tố bị can bằng bản cáo trạng thì Viện kiểm sát có trách nhiệm gửi hồ sơ và bản cáo trạng đến Tòa án theo quy định và lưu ý thực hiện trong thời hạn 3 ngày kể từ ngày ra quyết định truy tố bị can.
5. Chuyển hồ sơ vụ án và bản cáo trạng đến Tòa án
Theo Điều 244 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015, trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày ra bản cáo trạng, Viện kiểm sát phải chuyển hồ sơ vụ án và bản cáo trạng đến Tòa án.
Trường hợp vụ án phức tạp thì thời hạn chuyển hồ sơ vụ án và bản cáo trạng đến Tòa án có thể kéo dài nhưng không quá 10 ngày.
Trường hợp vụ án có bị can bị tạm giam thì trước khi hết thời hạn tạm giam 07 ngày thì Viện kiểm sát thông báo cho Tòa án biết để xem xét, quyết định việc tạm giam bị can khi nhận hồ sơ vụ án.
6. Trường hợp phải ra bản cáo trạng mới
Theo quy định tại Điều 246 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015, trường hợp Tòa án quyết định trả hồ sơ vụ án yêu cầu điều tra bổ sung thì Viện kiểm sát phải xem xét căn cứ của việc yêu cầu điều tra bổ sung và giải quyết như sau:
- Nếu quyết định trả hồ sơ yêu cầu điều tra bổ sung có căn cứ mà xét thấy không cần phải trả hồ sơ cho Cơ quan điều tra thì Viện kiểm sát trực tiếp tiến hành một số hoạt động điều tra để bổ sung tài liệu, chứng cứ; trường hợp Viện kiểm sát không thể tự điều tra bổ sung được thì Viện kiểm sát ra quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung và chuyển ngay hồ sơ cho Cơ quan điều tra để tiến hành điều tra.
Trường hợp kết quả điều tra bổ sung làm thay đổi cơ bản nội dung bản cáo trạng trước đó thì Viện kiểm sát phải ra bản cáo trạng mới thay thế và chuyển hồ sơ đến Tòa án. Trường hợp kết quả điều tra bổ sung dẫn đến đình chỉ vụ án thì Viện kiểm sát ra quyết định đình chỉ vụ án và thông báo cho Tòa án biết;
- Nếu quyết định trả hồ sơ yêu cầu điều tra bổ sung không có căn cứ thì Viện kiểm sát có văn bản nêu rõ lý do, giữ nguyên quyết định truy tố và chuyển lại hồ sơ cho Tòa án.
Trên đây là nội dung tư vấn của Luật Minh Khuê, trường hợp còn thắc mắc quý khách hàng vui lòng gọi 19006162 hoặc liên hệ qua email lienhe@luatminhkhue.vn để được hỗ trợ. Trân trọng!