1. Tỉ lệ bản đồ là gì?

Bản đồ là hình thu nhỏ tương đối chính xác về một khu vực hay cả trái đất. Bản vẽ đơn giản miêu một không gian, địa điểm và hiển thị nhưng thông số liên tục trực tiếp đến vị trí ấy có liên quan đến khu vực xung quanh.

Tỉ lệ bản đồ là tỉ số giữa một khoảng cách đo trên bản đồ và khoảng cách ngoài thực địa. Nó chỉ rõ mức độ thu nhỏ của khoảng cách được vữ trên bản đồ với thực tế trên mặt đất, nếu tỉ lệ bản đồ càng lớn thì mức độ chi tiết của nội dung trên bản đồ càng cao và ngược lại.

 

2. Tỉ lệ của một bản đồ địa lý là gì?

Tỷ lệ của một bản đồ địa lý là tỉ số giữa một khoảng cách đo trên bản đồ và khoảng cách ngoài thực địa.

Ví dụ tỉ lệ 1: 10000000 cho biết hình nước Việt Nam vẽ thu nhỏ lại 10000000 lần. Độ dài 1 cm ứng với độ dài ngoài thực địa là 10000000 cm hay 100 km.

 

3. Ký hiệu và tỉ lệ xích

3.1 Ký hiệu

Ký hiệu của bản đồ có dạng 1 : M trong đó số M chỉ khoảng cách thực tế gấp bao nhiêu lần khoảng cách tương ứng trên bản đồ. 

Bản đồ có tỉ lệ càng chi tiết và tương ứng với số M nhỏ. Bản đồ tỉ lệ nhỏ kém chi tiết hơn và có số M lớn hơn.

 

3.2. Tỉ lệ xích

Tỉ lệ xích T của một bản vẽ ( hoặc một bản đồ ) là tỉ lệ khoảng cách a giữa hai điểm trên bản vẽ ( trên bản đồ ) và khoảng cách b giữa hai điểm tương ứng trên thực tế.

T = a / b ( a, b có cùng đơn vị )

Ví dụ: Nếu khoảng cách a trên bản đồ là 1 cm, khoảng cách b trên thực tế là 1 km thì tỉ lệ xích T của bản đồ là 1 / 100000 vì 1 km = 100000 cm.

Bản đồ có tỉ lệ lớn thì càng chi tiết và tương ứng với số T nhỏ. Bản đồ tỉ lệ nhỏ kém chi tiết hơn và có số T lớn.

 

4. Địa lý

Bản đồ hay tạo bản đồ là nghiên cứu và thực hành tạo hình ảnh đại diện của trái đất trên bề mặt phẳng, và người tạo bản đồ được gọi là người vẽ bản đồ.

Bản đồ đường bộ có lẽ là bản đồ được sử dụng rộng rãi nhất hiện nay và tạo thành một tập hợp con các bản đồ hàng hải, bao gồm các biểu đồ hàng không và hải lí, bản đồ mạng lưới đường sắt, bản đồ đi bộ đường dài và đi xe đạp. Về số lượng, số lượng lớn nhất các tờ bản đồ được vẽ có lẽ được tạo thành từ các cuộc khảo sát địa phương, do các thành phố, do các thành phố, cơ quan quản lý, cơ quan thuế, nhà cung cấp dịch vụ khẩn cấp và các cơ quan địa phương khác thực hiện. Nhiều dự án khảo sát quốc gia đã được quân đội thực hiện, chẳng hạn như cơ quan khảo sát vũ khí Anh: một cơ quan chính phủ dân sự, nổi tiếng quốc tế về công việc chi tiết toàn diện.

Ngoài thông tin vị trí, bản đồ cũng có thể được sử dụng để phác họa các đường đồng mức biểu thị các giá trị không đổi về nhiệt độ cao, nhiệt độ, lượng mưa,...

 

5. Độ chính xác của bản đồ

Việc lập bản đồ các vùng lớn hơn, nơi không thể bỏ qua độ cong, yêu cầu các phép chiếu phải lập bản đồ từ bề mặt cong của trái đất lên mặt phẳng. Không thể làm phẳng hình cầu xuống mặt phẳng không bị biến dạng có nghĩa là bản đồ không thể có tỷ lệ không đổi. Một số bản đồ có tỷ lệ bị bóp méo một cách cố ý để phản ánh thông tin khác với diện tích đất hoặc khoảng cách. 

Ví dụ về tỷ lệ bị bóp méo là bản đồ London Underground nổi tiếng. Cấu trúc địa lý cơ bản được tôn trọng nhưng các tuyến ống ( và sông Thames ) được làm nhẵn để làm rõ mối quan hệ giữa các trạm. Gần trung tâm của bản đồ, các trạm được đặt cách xa nhau hơn là gần các cạnh của bản đồ.

Sự thiếu chính xác hơn nữa có thể là do cố ý. Ví dụ bản đồ đường có thể không hiển thị các tuyến đường sắt, đường thủy nhỏ hơn hoặc các đối tượng phi đường bộ nổi bật khác và ngay cả khi có, nó có thể hiển thị chúng kém rõ ràng hơn so với đường chính. Được gọi là khai báo, thực tiễn làm cho chủ đề mà người dùng quan tâm dễ đọc hơn mà không ảnh hưởng đến mức độ chính xác tổng thể. Bản đồ dựa trên phần mềm thường cho phép người dùng chuyển đổi khai báo giữa bật, tắt và tự động nếu cần. Trong auto mức độ khai báo được điều chỉnh khi người dùng thay đổi tỷ lệ hiển thị.

 

6. Các loại bản đồ

Bản đồ thế giới hoặc các khu vực rộng lớn thường là bản đồ chính trị hoặc vật lý.

- Bản đồ chính trị: thể hiện biên giới lãnh thổ

- Bản đồ địa lý là hiển thị các đặc điểm địa lý như núi, loại đất hoặc sử dụng đất bao gồm cơ sở hạ tầng như đường bộ, đường sắt và các tòa nhà.

Ngoài ra còn có một số loại bản đồ:

- Bản đồ địa hình hiển thị độ cao và độ nổi bằng các đường đồng mức hoặc bóng đổ

- Bản đồ địa chất không hiển thị bề mặt vật chất mà còn cho thấy các đặc điểm của lớp đá bên dưới, các đường đứt gãy và các cấu trúc dưới bề mặt.

 

7. Ý nghĩa của bản đồ

7.1. Trong thực tiễn

- Là người dẫn đường trên bộ, trên biển và trên không

- Là tài liệu không thể thiếu trong quân sự ( cung cấp các thông tin về địa hình để vạch ra kế hoạch tác chiến )

- Trong công nghiệp, xây dựng, giao thông vận tải,...dùng để khảo sát, thiết kế nhất là các bản đồ địa hình tỷ lệ lớn.

- Trong nông nghiệp dùng để quy hoạch, quản lí đất đai, phân vùng quy hoạch đất, xây dựng thủy lợi

- Trong giáo dục, là giao cụ trực quan, là cuốn sách giáo khoa thứ hai trong công tác giảng dạy và học tập các môn địa lý và lịch sử. Bản đồ còn là công cụ để tuyên truyền, quảng cáo nâng cao trình độ văn hóa chung của nhân dân.

- Trong kinh tế - xã hội, là phương tiện không thể thiếu trong ngành du lịch. Bản đồ là công cụ hỗ trợ đắc lực cho việc quy hoạch định hướng phát triển kinh tế cho mỗi quốc gia, mỗi ngành kinh tế xã hội.

- Bản đồ là tài liệu pháp lý quan trọng trong công tắc quản lý Nhà nước nói chung trong ngành địa chính nói chung.

 

7.2. Trong khoa học

Mọi công tác nghiên cứu địa lý và nghiên cứu các khoa học về trái đất bắt đầu từ bản đồ và kết thúc cũng bằng bản đồ. Các kết quả nghiên cứu được thể hiện lê bản đồ được chính xác hóa trên bản đồ. Bằng các bản đồ có thể tìm ra các quy luật phát triển và phân bố không gian của các đối tượng, các hiện tượng được thể hiện trên bản đồ. Do đó:

- Bản đồ là công cụ để nghiên cứu khoa học trong nhiều ngành kinh tế quốc dân.

- Bản đồ là nguồn cung cấp thông tin cần thiết và chính xác.

- Bản đồ cho ta cái nhìn tổng quan như nhìn mô hình không gian khách quan thực tế.

Ngày nay và trong tương lai bản đồ vẫn đóng vai trò quan trọng để giải quyết những nhiệm vụ cụ thể của loài người. Ý nghĩa của bản đồ vượt ra khỏi khuôn khổ của từng quốc gia, từng lãnh thổ. Đó là việc sử dụng và thành lập hệ thống thông tin địa lý ( GIS ) để bố trí lực lượng sản xuất khai thác và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường, dân số và phát triển. Sự phát triển của thế giới trong mọi lĩnh vực đòi hỏi một khối lượng sản phẩm bản đồ lớn ( về số lượng và chủng loại ).

Vấn đề đặt ra cho ngành bản đồ không chỉ về số lượng bản đồ mà còn là thời gian thành lập nhanh nhất, khả năng sử dụng, truy cập các thông tin bản đồ nhanh chóng, chính xác, dễ dàng. Để giải quyết vấn đề đó, xu hướng trên thế giới cũng như ở nước ta là ứng dụng công nghệ mới vào sản xuất, lưu trữ bản đồ.

Trên đây là bài viết của Luật Minh Khuê về nội dung liên quan đến tỷ lệ bản độ  càng to thì càng? Tỷ lệ bản đồ càng bé thì càng? Hy vọng bài viết sẽ hữu ích đối với bạn đọc. Trân trọng cảm ơn!