1. Thế nào là hành vi mua bán dâm?

Hai thuật ngữ "mua dâm" và "bán dâm" không còn xa lạ với công chúng. Pháp luật xác định mua dâm và bán dâm như thế nào?

Khái niệm mại dâm đã được định nghĩa trong Điều 3, Pháp lệnh Phòng chống mại dâm số 10/2003/PL-UBTVQH11 ban hành ngày 17 tháng 03 năm 2003 bởi Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Theo đó, "mại dâm là hành vi mua dâm, bán dâm".

Theo quy định này, bán dâm được định nghĩa là "hành vi giao cấu của một người với người khác để được trả tiền hoặc lợi ích vật chất khác". Trong khi đó, mua dâm được định nghĩa là "hành vi của người dùng tiền hoặc lợi ích vật chất khác trả cho người bán dâm để được giao cấu". Mua dâm và bán dâm đều thuộc khái niệm mại dâm theo quy định này. Tuy nhiên, hành vi mua dâm nhằm thỏa mãn nhu cầu tình dục, trong khi hành vi bán dâm nhằm thỏa mãn nhu cầu vật chất.

Do đó, mua dâm và bán dâm là hai khía cạnh của mại dâm, chúng có mối quan hệ mật thiết và không thể tách rời. Có thể nhận biết hai hành vi này qua các đặc điểm sau:

- Hành vi giao cấu.

- Hành vi giao cấu đó phát sinh trên cơ sở có sự trao đổi (trả tiền hoặc lợi ích vật chất khác). Không được coi là mại dâm nếu hai người giao cấu chỉ nhằm thỏa mãn nhu cầu tình dục. Đây là dấu hiệu quan trọng để xác định mại dâm.

Mại dâm hiện đang trở thành một vấn nạn ngày càng nghiêm trọng, gây ảnh hưởng xấu và có tác động tiêu cực trên xã hội. Vì vậy, Điều 5 của Pháp lệnh về phòng chống mại dâm quy định: Cơ quan, tổ chức, cá nhân và gia đình đều có trách nhiệm tuân thủ các quy định pháp luật về phòng chống mại dâm. Mọi hành vi mại dâm và liên quan đến hoạt động mại dâm phải được phát hiện và xử lý kịp thời, nghiêm minh theo quy định pháp luật. Để đạt được kết quả tích cực trong công cuộc phòng chống mại dâm nói chung và tội phạm mại dâm nói riêng, từng cá nhân và tổ chức cần nhận thức trách nhiệm trong công tác phòng chống mại dâm và góp phần bảo vệ trật tự an toàn cho toàn xã hội.

Trên thực tế, mua bán dâm là hoạt động liên quan đến sử dụng dịch vụ tình dục ngoài hôn nhân, trong đó người mua dâm và người bán dâm trao đổi tiền bạc, vật chất hoặc những quyền lợi và ưu đãi khác. Mua bán dâm có thể diễn ra ở các địa điểm như nhà nghỉ, khách sạn, quán karaoke và nơi khác.

Tuy nhiên, với quan hệ mua bán dâm đồng tính, hiện tại pháp luật không định nghĩa rõ ràng về khái niệm "giao cấu" mà thường hiểu là quan hệ tình dục giữa những người có giới tính khác nhau (nam và nữ). Do đó, giữa những người đồng tính, khái niệm "giao cấu" không áp dụng và không chịu sự điều chỉnh của pháp lệnh này. Hiện tại, chưa có quy định cụ thể về xử lý các hành vi mua bán dâm đồng tính.

2. Mở tiệm massage, karaoke để mua bán dâm thì xử phạt thế nào?

Để đảm bảo phòng chống mại dâm tại các cơ sở kinh doanh dịch vụ, Pháp lệnh Phòng, chống mại dâm quy định rõ những trách nhiệm của khách sạn, nhà nghỉ, nhà hàng, cơ sở kinh doanh vũ trường, karaoke, xoa bóp, tắm hơi và các cơ sở kinh doanh dịch vụ dễ bị lợi dụng để hoạt động mại dâm. Các cơ sở này phải thực hiện các biện pháp: Ký kết hợp đồng lao động bằng văn bản với người lao động; Đăng ký lao động với cơ quan quản lý lao động địa phương; Không tuyển dụng người lao động dưới 18 tuổi để thực hiện công việc có thể ảnh hưởng xấu đến sự phát triển thể lực, trí lực và nhân cách của họ; Thực hiện khám sức khoẻ định kỳ cho người lao động theo quy định của pháp luật; Cam kết tuân thủ quy định của pháp luật về phòng chống mại dâm và chịu trách nhiệm trước pháp luật đối với bất kỳ hoạt động mại dâm xảy ra tại cơ sở.

Các cơ sở kinh doanh vũ trường, karaoke, xoa bóp, tắm hơi và các cơ sở kinh doanh dịch vụ dễ bị lợi dụng để hoạt động mại dâm chỉ được phép hoạt động khi đáp ứng đủ tiêu chuẩn và điều kiện theo quy định của Chính phủ. Người lao động làm việc tại các cơ sở này phải tuân thủ quy định về quản lý hộ khẩu và ký cam kết không vi phạm pháp luật về phòng chống mại dâm.

Những hành vi lợi dụng kinh doanh và dịch vụ để thực hiện mua dâm, bán dâm sẽ bị xử phạt hành chính theo quy định của pháp luật. Cụ thể, theo Nghị định 144/2021/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy, chữa cháy; cứu nạn, cứu hộ; phòng, chống bạo lực gia đình (sau đây gọi là Nghị định 144/2021/NĐ-CP), hành vi lợi dụng kinh doanh và dịch vụ để thực hiện mua dâm, bán dâm bị xử phạt như sau:

- Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng đối với việc sử dụng mua dâm, bán dâm và các hoạt động tình dục khác làm phương thức kinh doanh.

- Phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng đối với người đứng đầu, người đại diện theo pháp luật, người được giao quản lý cơ sở kinh doanh, dịch vụ khi cho phép hoạt động mua dâm, bán dâm, khiêu dâm, kích dục diễn ra trong cơ sở do mình quản lý.

Hình thức xử phạt bổ sung:

- Tước quyền sử dụng Giấy chứng nhận đủ điều kiện về an ninh, trật tự từ 6 tháng đến 12 tháng đối với hành vi vi phạm quy định tại các khoản 1 và 2 trên.

- Trục xuất người nước ngoài có hành vi vi phạm quy định tại các khoản 1 và 2 trên.

Biện pháp khắc phục hậu quả:

- Buộc nộp lại số tiền lợi bất hợp pháp có được từ việc thực hiện hành vi vi phạm quy định tại khoản 1 trên.

Do đó, cơ sở karaoke hoạt động mua dâm, bán dâm trong các cơ sở này có thể bị xử phạt theo quy định được nêu trên đây.

3. Mở tiệm massage, karaoke để mua bán dâm bị xử lý hình sự khi nào?

Bên cạnh các hình phạt hành chính và biện pháp xử phạt bổ sung như đã nêu trong phần trước, việc lợi dụng kinh doanh để mua bán dâm cũng có thể bị xử lý hình sự.

Theo Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017, Điều 327 và Điều 328 quy định về tội chứa mại dâm và tội môi giới mại dâm như sau:

Đối với Tội chứa mại dâm (theo Điều 327 BLHS):

- Mức phạt tù từ 01 năm đến 05 năm đối với người có hành vi chứa mại dâm.

- Mức phạt tù từ 05 năm đến 10 năm trong các trường hợp sau:

  • Thực hiện hành vi vi phạm một cách có tổ chức.
  • Cưỡng bức mại dâm.
  • Có hành vi phạm tội 02 lần trở lên.
  • Thực hiện hành vi chứa mại dâm với từ 04 người trở lên.
  • Chứa mại dâm đối với người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi.
  • Gây rối loạn tâm thần và hành vi của người bán dâm với tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%.
  • Thu lợi bất chính từ 50 triệu đồng đến dưới 200 triệu đồng.
  • Tái phạm nguy hiểm.

- Phạt tù từ 10 đến 15 năm nếu có hành vi phạm tội trong các trường hợp sau:

  • Đối với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi.
  • Thu lợi bất chính từ 200 triệu đồng đến dưới 500 triệu đồng.
  • Gây rối loạn tâm thần và hành vi của người bán dâm với tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 61% trở lên.

- Phạt tù từ 15 đến 20 năm hoặc tù chung thân nếu có hành vi phạm tội trong các trường hợp sau:

  • Có hành vi phạm tội đối với 02 người trở lên từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi.
  • Thu lợi bất chính 500 triệu đồng trở lên.
  • Cưỡng bức mại dâm dẫn đến người đó chết hoặc tự sát.

Ngoài ra, người có hành vi phạm tội còn có thể bị:

  • Phạt tiền từ 10 triệu đến 100 triệu đồng.
  • Phạt quản chế từ 01 năm đến 05 năm.
  • Hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

Đối với Tội môi giới mại dâm (theo Điều 328 BLHS):

- Phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm đối với người có hành vi làm trung gian dụ dỗ, dẫn dắt để người khác thực hiện việc mua dâm, bán dâm.

- Phạt tù từ 03 đến 07 năm nếu có hành vi phạm tội trong các trường hợp sau:

  • Đối với người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi.
  • Phạm tội có tổ chức.
  • Phạm tội có tính chất chuyên nghiệp.
  • Phạm tội từ 02 lần trở lên.
  • Phạm tội đối với 02 người trở lên.
  • Thu lợi bất chính từ 100 triệu đồng đến dưới 500 triệu đồng.
  • Tái phạm nguy hiểm.

- Phạt tù từ 07 đến 15 năm nếu có hành vi phạm tội trong các trường hợp sau:

  • Đối với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi.
  • Thu lợi bất chính 500 triệu đồng trở lên.

Ngoài ra, người có hành vi phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10 triệu đồng đến dưới 50 triệu đồng.

Để tìm hiểu thêm thông tin liên quan, mời quý bạn đọc tham khảo bài viết: Các tội phạm về mại dâm theo Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) 

Trên đây là toàn bộ nội dung bài viết của Luật Minh Khuê liên quan đến vấn đề: Mở tiệm massage, karaoke để mua bán dâm thì bị phạt thế nào? Mọi thắc mắc chưa rõ hay có nhu cầu hỗ trợ vấn đề pháp lý khác, quý khách hàng vui lòng liên hệ với bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua số hotline: 1900.6162 hoặc gửi yêu cầu tư vấn qua email: lienhe@luatminhkhue.vn để được hỗ trợ và giải đáp kịp thời. Xin trân trọng cảm ơn quý khách hàng đã quan tâm theo dõi bài viết của Luật Minh Khuê.