- 1. Hệ thống hóa pháp luật là gì?
- 2. Pháp điển hóa pháp luật là gì?
- 3. Pháp điển hóa cùng với tập hợp hóa thực ra là hai hình thức của hệ thống hóa pháp luật
- 4. Phân biệt rạch ròi giữa tập hợp hóa, hệ thống hóa và pháp điển hóa
- 5. Pháp điển hóa là một công việc có nguyên tắc cao hơn, trình tự, thủ tục phức tạp hơn hệ thống hóa
- 6. Kết luận mối quan hệ giữa hệ thống hóa và pháp điển hóa
1. Hệ thống hóa pháp luật là gì?
Hệ thống hóa pháp luật là Hoạt động nhằm sắp xếp, hoàn thiện các quy phạm pháp luật, văn bản pháp luật, chấn chỉnh thành hệ thống có sự thống nhất nội tại theo một trình tự nhất định. Hệ thống hóa pháp luật có hai dạng là tập hợp hóa và pháp điển hóa.
Tập hợp hóa và pháp điển hóa đều là phương pháp hệ thống hóa pháp luật đề nhằm sắp xếp, hoàn thiện các quy phạm pháp luật, văn bản pháp luật, chấn chỉnh thành hệ thống có sự thống nhất nội tại theo một trình tự nhất định.
- Tập hợp hóa pháp luật là sắp xếp các văn bản quy phạm pháp luật theo thời gian ban hành, theo cơ quan ban hành hoặc theo lĩnh vực quản lý nhà nước,... Nội dung các văn bản quy phạm pháp luật theo thời gian ban hành;
- Pháp điển hóa là hoạt động của cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhằm tập hợp các văn bản quy phạm pháp luật trong từng lĩnh vực nhất định, loại bỏ các mâu thuẫn, chồng chéo, các quy định lỗi thời, bổ sung quy định mới cho phù hợp, từ đó cho ra đời văn bản quy phạm pháp luật mới dựa trên nền tảng pháp luật cũ.
2. Pháp điển hóa pháp luật là gì?
Đại từ điển tiếng Việt định nghĩa: "Pháp điển hóa là một dạng hoạt động làm luật, có thể đưa đến việc ban hành một văn bản pháp luật mới có tính chất tổng hợp (Ví dụ Bộ luật hình sự nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam".
Từ điển bách khoa Việt Nam giải thích định nghĩa này cụ thể hơn: "Pháp điển hóa là việc xây dựng một bộ luật, đạo luật trên cơ sở tập hợp, hệ thống hóa các văn bản pháp luật hiện hành, loại bỏ các quy định không phù hợp, bổ sung, dự liệu những quy định đáp ứng sự điều chỉnh pháp luật đối với những quan hệ xã hội đang phát triển. Pháp điển hóa là một dạng hoạt động làm luật, có thể đưa đến việc ban hành một văn bản pháp luật mới có tính chất tổng hợp"
Một số quan điểm khác lại cho rằng pháp điển hóa là tập hợp các quy định của các văn bản lập pháp (luật, pháp lệnh, v.v.) và văn bản lập quy (nghị định, quyết định, v.v.) liên quan đêh một ngành, một lĩnh vực và sắp xếp thành một hệ thống thuận tiện cho việc tra cứu các quy định mà vẫn giữ nguyên giá trị pháp lý và hiệu lực. Pháp điển hóa giúp cho việc tra cứu, tìm hiểu pháp luật được thuận tiện và góp phần phát hiện các mâu thuẫn, chồng chéo, thiếu sót để đề nghị sửa đổi, bổ sung.
Như vậy, quan niệm về vấn đề này vẫn còn nhiều khác biệt. Dưới đây là một số quan điểm phổ biên về công tác pháp điển hóa tại Việt Nam:
- Quan điểm pháp điển hóa truyền thống, coi hoạt động pháp điển hóa là hoạt động lập pháp do các cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước thực hiện và sản phẩm pháp điển hóa là các bộ luật, luật hoàn chỉnh.
- Quan điểm coi pháp điển hóa là hoạt động tập hợp, rà soát, so sánh, đối chiếu, căn chỉnh, loại bỏ những quy định mâu thuẫn, chồng chéo, đã hết hiệu lực thi hành để xuất bản các tổng tập quy phạm pháp luật theo từng lĩnh vực.
Về mối quan hệ giữa pháp điển hóa và hệ thống hóa, hiện nay còn một số quan điểm khác nhau. Các phần dưới đây sẽ giới thiệu những quan điểm này.
3. Pháp điển hóa cùng với tập hợp hóa thực ra là hai hình thức của hệ thống hóa pháp luật
Quan điểm thứ nhất cho rằng, pháp điển hóa cùng với tập hợp hóa thực ra là hai hình thức của hệ thống hóa pháp luật. Hệ thống hóa pháp luật về cơ bản được tiến hành thống qua hai hình thức: tập hợp hóa và pháp điển hoá. Cả hai hình thức đều là những hoạt động phức tạp, tỉ mỉ và có mối liên hệ chặt chẽ với nhau.
Tập hợp hóa là hoạt động sắp xếp các văn bản quy phạm pháp luật (hay các quy phạm pháp luật) theo một trật tự nào đó, có thể theo trình tự thời gian ban hành, theo vấn đề, theo vần chữ cái, thậm chí theo một trật tự khác tuỳ thuộc mục đích của chủ thể tiến hành tập hợp (như tập "hệ thống hóa luật lệ hình sự" tập 1 (1970-1974) tập 2 (1975-1978), do Tòa án nhân dân tối cao thực hiện năm 1979). Tập hợp hóa không làm thay đổi nội dung văn bản, không bổ sung những quy định mới, chỉ loại bỏ những quy phạm đã hết hiệu lực, không loại bỏ những quy phạm mâu thuẫn với văn bản cấp trên.
Pháp điển hóa là hoạt động nhằm tập hợp và sắp xếp hài hòa các quy phạm pháp luật trong mối liên hệ bên trong của chúng. Pháp điển hóa không những chỉ tập hợp các văn bản đã có theo một trật tự nhất định, loại bỏ những quy phạm lạc hậu, mâu thuẫn, mà còn bổ sung thêm những quy phạm mới nhằm khắc phục những sơ hở của pháp luật. Kết quả của pháp điển hóa là một văn bản quy phạm pháp luật mới ra đời, thường dưới hình thức bộ luật. Theo quan điểm này, hoạt động pháp điển hóa nằm trong nội hàm của hệ thống hóa pháp luật, là một hình thức cao hơn của tập hợp hóa.
Theo Giáo trình lý luận chung về Nhà nước và Pháp luật của Trường đại học Luật Hà Nội và Khoa Luật Đại học quốc gia Hà Nội thì, pháp điển hóa và tập hợp hóa được coi là hai hình thức của hoạt động hệ thống hóa pháp luật. Theo đó, hoạt động hệ thống hóa pháp luật diễn ra ở các mức độ khác nhau, tùy thuộc vào mục đích, yêu cầu cụ thể biểu hiện dưới hai hình thức tập hợp hóa và pháp điển hóa. Đây là hai quá trình có mối liên hệ mật thiết với nhau, quá trình này có tác dụng bổ sung, tạo tiền đề cho quá trình kia. Như vậy, pháp điển hóa là một phần của phạm trù hệ thống hóa pháp luật và là giai đoạn tiếp theo, giai đoạn nâng cao của tập hợp hóa.
4. Phân biệt rạch ròi giữa tập hợp hóa, hệ thống hóa và pháp điển hóa
Quan điểm thứ hai: phân biệt rạch ròi giữa tập hợp hóa, hệ thống hóa và pháp điển hóa, coi đây là những công việc khác nhau về tính chất, yêu cầu, nội dung và cách thức thực hiện. Nếu tập hợp hóa chỉ là thao tác kỹ thuật, bao gồm việc thu thập, sắp xếp các văn bản quy phạm pháp luật theo các tiêu chí đơn giản thì hệ thống hóa lại có những yêu cầu cao hơn, đòi hỏi việc sắp xếp các văn bản quy phạm pháp luật phải tạo ra một tổng thể hoàn chỉnh theo trật tự logic, có sự thống nhất nội tại, bảo đảm tính nhất quán và khoa học. Công việc này bao gồm cả đánh giá, nhận xét về hiệu lực và nội dung của các văn bản quy phạm pháp luật. Pháp điển hóa là công đoạn tiếp theo của hệ thống hóa. Quan điểm này coi pháp điển hóa là hoạt động "xây dựng các đạo luật (hoạt động lập pháp) của Quốc hội. Các luật đó điều chỉnh toàn diện, tổng quát về một lĩnh vực quan hệ xã hội quan trọng và tương đối ổn định trong xã hội"1. Vì vậy, pháp điển hóa và hệ thống hóa là hai công việc độc lập và hoàn toàn tách rời nhau.
5. Pháp điển hóa là một công việc có nguyên tắc cao hơn, trình tự, thủ tục phức tạp hơn hệ thống hóa
Quan điểm thứ ba cho rằng, trong mối quan hệ với hệ thống hóa pháp luật, nếu nói pháp điển hóa là một hình thức của hệ thống hóa pháp luật thì chỉ đúng một phần, bởi vì, kết quả cuối cùng của pháp điển hóa là làm ra một bộ luật mà để xây dựng bộ luật này cần rất nhiều công việc, quy trình, thủ tục..., bao gồm cả việc nghiên cứu, rà soát, chọn lọc, kế thừa những quy phạm cũ và xây dựng những quy phạm mới cho phù hợp với thực tiễn. Như vậy, pháp điển hóa là một công việc có yêu cầu, tiêu chí, nguyên tắc cao hơn, trình tự, thủ tục phức tạp hơn, thậm chí là bao trùm lên cả hệ thống hóa pháp luật, hệ thống hóa thực chất là một hình thức pháp điển hóa. Hệ thống hóa có thể thể hiện dưới rất nhiều hình thức khác nhau và được thực hiện ở hầu hết các quốc gia mà Việt Nam là một minh chứng. Hoạt động pháp điển hóa ở Việt Nam thời gian qua đang diễn ra theo hai trường phái truyền thống và cải cách, vừa là hoạt động lập pháp, đồng thời là hoạt động hệ thống hóa pháp luật nhưng còn ở mức độ đơn giản, chỉ đạt đến kết quả là xuất bản được các tập hợp văn bản và hủy một số văn bản không còn phù hợp.
6. Kết luận mối quan hệ giữa hệ thống hóa và pháp điển hóa
Theo các tác giả cuốn sách, xét từ góc độ hệ thống hóa pháp luật, pháp điển hóa là hình thức cao nhất của hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật, giữa hệ thống hóa và pháp điển hóa luôn có mối quan hệ chặt chẽ, gắn bó, tác động qua lại lẫn nhau, cái này là tiền đề cho cái kia và ngược lại. Chẳng hạn, nếu hoạt động pháp điển hóa được tiến hành bài bản, khoa học, có giá trị ứng dụng sẽ tạo thuận lợi cho việc hệ thống hóa pháp luật ở các cấp độ khác nhau, đem đến cho các cơ quan nhà nước có thẩm quyền một cái nhìn tổng quan, đầy đủ về những giá trị đạt được cũng như những khoảng trống, chồng chéo, mâu thuẫn cần phải khắc phục của hệ thống pháp luật, từ đó đưa ra những giải pháp hệ thống hóa pháp luật phù hợp. Ngược lại, hoạt động hệ thống hóa pháp luật ở Việt Nam hiện nay có thể được hiểu là, việc các cơ quan nhà nước tiến hành soát xét các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến lĩnh vực do mình phụ trách, định kỳ sắp xếp lại các văn bản quy phạm pháp luật theo thứ bậc hiệu lực pháp lý từ cao xuống thấp. Như vậy, việc sắp xếp này có thể là tiền đề cho việc thực hiện pháp điển hóa hình thức thông qua việc nâng các tiêu chí phân loại lên một bước, không chỉ theo thứ bậc pháp lý mà còn theo tiêu chí nội dung, chủ đề, lĩnh vực pháp điển và đưa chúng vào các bộ pháp điển phù hợp. Xét ở một khía cạnh khác, việc hệ thống hóa pháp luật còn có giá trị làm tiền đề cho hoạt động sáng tạo pháp luật (pháp điển hóa nội dung) ở chỗ, thông qua hoạt động hệ thống hóa, nếu cơ quan nhà nước phát hiện có quy định trái pháp luật, mâu thuẫn, chồng chéo hoặc không còn phù hợp với tình hình phát triển của đất nước thì tự mình sửa đổi, bổ sung, thay thế, bãi bỏ hoặc đình chỉ việc thi hành nếu văn bản đó thuộc thẩm quyền ban hành của mình hoặc kiến nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền kịp thời sửa đổi, bổ sung, thay thế, bãi bỏ hoặc đình chỉ việc thi hành nếu văn bản đó thuộc thẩm quyền ban hành của cơ quan nhà nước cấp trên.
LUẬT MINH KHUÊ (Sưu tầm & Biên tập)