Căn cứ pháp lý:

- Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự 2015;

- Thông tư liên tịch số 04/2018/TTLT-VKSNDTC-BCA-BQP.

1. Các cơ quan thuộc lực lượng Cảnh sát trong Công an nhân dân được giao nhiệm vụ điều tra

Nhiệm vụ, quyền hạn điều tra của các cơ quan thuộc lực lượng Cảnh sát trong Công an nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra được quy định cụ thể tại Điều 38 Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự 2015, như sau:

- Trong khi thi hành nhiệm vụ mà phát hiện sự việc có dấu hiệu tội phạm thuộc thẩm quyền điều tra của Cơ quan Cảnh sát điều tra thì Cục trưởng, Giám đốc, Trưởng phòng, Giám thị của các cơ quan Cảnh sát quy định tại khoản 6 Điều 9 của Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự quyết định khởi tố vụ án hình sự, lấy lời khai, khám nghiệm hiện trường, khám xét, thu giữ, tạm giữ và bảo quản vật chứng, tài liệu liên quan trực tiếp đến vụ án, chuyển hồ sơ vụ án cho Cơ quan Cảnh sát điều tra có thẩm quyền trong thời hạn 07 ngày, kể từ ngày ra quyết định khởi tố vụ án.

- Trường hợp người phạm tội trốn khỏi nơi giam, Giám thị Trại giam ra quyết định truy nã và tổ chức lực lượng truy bắt người bỏ trốn.

- Cục trưởng, Giám đốc, Trưởng phòng, Giám thị quy định tại khoản 1 Điều này trực tiếp tổ chức và chỉ đạo các hoạt động điều tra, quyết định phân công hoặc thay đổi cấp phó trong việc điều tra vụ án hình sự, kiểm tra các hoạt động điều tra, quyết định thay đổi hoặc hủy bỏ các quyết định không có căn cứ và trái pháp luật của cấp phó, giải quyết khiếu nại, tố cáo theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

- Khi Cục trưởng, Giám đốc, Trưởng phòng, Giám thị vắng mặt thì một cấp phó được ủy nhiệm thực hiện các quyền hạn của cấp trưởng quy định và phải chịu trách nhiệm trước cấp trưởng và trước pháp luật về nhiệm vụ được giao.

- Khi được phân công điều tra vụ án hình sự, Phó Cục trưởng, Phó Giám đốc, Phó Trưởng phòng, Phó Giám thị có quyền áp dụng các biện pháp điều tra quy định tại khoản 1 Điều này.

- Cục trưởng, Phó Cục trưởng, Giám đốc, Phó Giám đốc, Trưởng phòng, Phó Trưởng phòng, Giám thị, Phó Giám thị Trại giam phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về hành vi và quyết định của mình.

2. Các cơ quan khác trong Quân đội nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành điều tra?

Nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan khác trong Quân đội

nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều ha được quy định tại Điều 39 Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự 2015, cụ thể như sau:

- Giám thị Trại giam trong khi làm nhiệm vụ của mình mà phát hiện sự việc có dấu hiệu tội phạm thuộc thẩm quyền điều tra của Cơ quan điều ha hình sự đến mức phải truy cứu trách nhiệm hình sự thì quyết định khởi tố vụ án hình sự, khám nghiệm hiện trường, lấy lời khai, khám xét, thu giữ, tạm giữ và bảo quản vật chứng, tài liệu liên quan trực tiếp đến vụ án, chuyển hồ sơ vụ án cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền trong thời hạn 07 ngày, kể từ ngày ra quyết định khởi tố vụ án.

- Trường hợp người phạm tội trốn khỏi nơi giam, Giám thị Trại giam ra quyết định truy nã và tổ chức lực lượng truy bắt người bỏ trốn.

- Khi Giám thị Trại giam vắng mặt thì một cấp phó được ủy nhiệm thực hiện các quyền hạn của cấp trưởng quy định và phải chịu trách nhiệm trước cấp trưởng và trước pháp luật về nhiệm vụ được giao.

- Thủ trưởng đơn vị độc lập cấp trung đoàn và tương đương khi phát hiện những hành vi phạm tội thuộc thẩm quyền điều tra của Cơ quan điều tra trong Quân đội nhân dân, xảy ra trong khu vực đóng quân của đơn vị thì có quyền lập biên bản phạm tội quả tang, lấy lời khai, khám xét, thu giữ, tạm giữ và bảo quản vật chứng, tài liệu liên quan đến hành vi phạm tội, áp dụng biện pháp ngăn chặn theo quy định của Bộ luật Tố tụng  hình sự, chuyển hồ sơ vụ án cho Cơ quan điều ti a có thẩm quyền trong thời hạn 07 ngày, kể từ ngày ra quyết định khởi tố vụ án.

- Khi Thủ trưởng đơn vị độc lập cấp trung đoàn và tương đương vắng mặt thì một cấp phó được ủy nhiệm thực hiện các quyền hạn của cấp trưởng quy định và phải chịu trách nhiệm trước cấp trưởng và trước pháp luật về nhiệm vụ được giao.

- Giám thị, Phó Giám thị Trại giam, Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng đơn vị độc lập cấp trung đoàn và tương đương phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về hành vi và quyết định của mình.

3. Mối quan hệ giữa Cơ quan điều tra với cơ quan được giao nhiệm vụ thực hiện một số hoạt động điều tra

Quan hệ phối hợp giữa Cơ quan điều tra với cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra được quy định chặt chẽ tại Điều 40 Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự đó là:

- Quan hệ giữa các Cơ quan điều tra, giữa Cơ quan điều tra với cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, giữa các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra là quan hệ phân công và phối hợp. 

- Cơ quan điều tra có trách nhiệm hướng dẫn, chỉ đạo nghiệp vụ điều tra đối với cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra. Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra phải thực hiện yêu cầu bằng văn bản của Cơ quan điều tra.

- Cơ quan điều tra có trách nhiệm tiếp nhận hồ sơ vụ án do cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra chuyển giao theo thẩm quyền và thông báo kết quả giải quyết cho cơ quan đã chuyển giao hồ sơ vụ án.

- Đối với sự việc có dấu hiệu phạm tội mà chưa xác định rõ thẩm quyền điều tra thì Cơ quan điều tra nào phát hiện trước phải áp dụng ngay các hoạt động điều tra theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự và Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự; khi đã xác định được thẩm quyền điều tra thì chuyển vụ án cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

- Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một so hoạt động điều tra sau khi khởi tố vụ án hình sự, áp dụng biện pháp ngăn chặn theo thẩm quyền phải gửi ngay các quyết định đó cho Viện kiểm sát và thông báo cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền biết.

- Các đơn vị Cảnh sát nhân dân, An ninh nhân dân, Kiểm soát quân sự có trách nhiệm hỗ trợ và thực hiện yêu cầu của Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra, Điều tra viên và của Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra trong hoạt động điều tra. 

4. Quan hệ giữa đơn vị điều tra và đơn vị trinh sát

Quan hệ giữa đơn vị điều tra và đơn vị trinh sát được quy định tại Điều 42 của Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự, cụ thể là:

- Quan hệ giữa đơn vị điều tra và đơn vị trinh sát là quan hệ phối hợp, hỗ trợ trong phát hiện, ngăn chặn, điều tra, xử lý và phòng ngừa tội phạm.

- Trong quan hệ với đơn vị điều tra, đơn vị trinh sát có trách nhiệm sau đây:

+ Áp dụng các biện pháp cần thiết theo quy định của pháp luật để phát hiện hành vi vi phạm pháp luật và cung cấp thông tin cho đơn vị điều tra để điều tra, xử lý;

+ Áp dụng biện pháp nghiệp vụ để hỗ trợ đơn vị điều tra tiến hành hoạt động điều tra, thu thập tài liệu, chứng cứ, ngăn chặn tội phạm và truy bắt người phạm tội;

+ Áp dụng các biện pháp cần thiết để phòng ngừa vi phạm pháp luật và tội phạm theo chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn được giao; 

+ Phát hiện sơ hở, thiếu sót trong quản lý nhà nước, quản lý xã hội, quản lý kinh tế để kiến nghị với cơ quan, tổ chức hữu quan có biện pháp khắc phục;

+ Áp dụng các biện pháp cần thiết theo quy định của pháp luật để hạn chế, loại trừ nguyên nhân, điều kiện làm phát sinh tội phạm, vi phạm pháp luật.

- Trong quan hệ với đơn vị trinh sát, đơn vị điều tra có trách nhiệm sau đây:

+ Cung cấp thông tin về tội phạm và người phạm tội cho đơn vị trinh sát để thực hiện chức năng, nhiệm vụ theo quy định tại khoản 2 Điều này;

+ Phối hợp với đơn vị trinh sát đánh giá, xác định những sơ hở, thiếu sót trong quản lý nhà nước, quản lý xẫ hội, quản lý kinh tế để kiến nghị với cơ quan, tổ chức hữu quan có biện pháp khắc phục;

- Đánh giá nguyên nhân, điều kiện làm phát sinh tội phạm, phương thức, thủ đoạn phạm tội trong các vụ án hình sự để trao đổi, phối hợp với đơn vị trinh sát thực hiện công tác phòng ngừa, phát hiện tội phạm.

Thủ trưởng Cơ quan điều tra quyết định việc áp dụng các biện pháp cần thiết trong phối hợp hoạt động giữa đơn vị điều tra và đơn vị trinh sát trong điều tra vụ án hình sự. Các biện pháp quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều này phải được giữ bí mật theo quy định của pháp luật về bảo vệ bí mật nhà nước.

5. Mối quan hệ Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát

Thông tư liên tịch (TTLT) số 04/2018 thay thế cho Thông tư liên tịch số 05/2005/TTLT-VKSNDTC-BCA-BQP đã làm rõ hơn các quy định về điều tra, truy tố, mối quan hệ phối hợp giữa Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát, tạo thuận lợi cho hai cơ quan trong quá trình giải quyết án hình sự. Theo đó, TTLT số 04 có những điểm mới như sau:

- TTLT số 04/2018 ngoài quy định về việc thay đổi, hủy bỏ lệnh, quyết định của Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra (CQĐT) thì bổ sung quy định về việc thay đổi, hủy bỏ lệnh, quyết định của Thủ trưởng CQĐT tại Điều 5.

- Khi thực hành quyền công tố, kiểm sát việc khởi tố vụ án hình sự, nếu quyết định khởi tố vụ án hình sự của Thủ trưởng CQĐT không có căn cứ thì VKS ra quyết định hủy bỏ mà không cần yêu cầu CQĐT hủy bỏ (điểm c, khoản 1, Điều 7)

- Trường hợp xét phê chuẩn quyết định khởi tố bị can đối với người đang bị tạm giữ thì chậm nhất trước khi hết thời hạn tạm giữ hoặc gia hạn tạm giữ 24 giờ CQĐT phải chuyển hồ sơ đề nghị xét phê chuẩn cho (Viện kiểm sát) VKS cùng cấp (khoản 3, Điều 10) (TTLT số 05/2005, thời hạn này là 12 giờ).

- Sau khi thực hiện việc bổ sung chứng cứ, tài liệu theo yêu cầu của VKS, CQĐT phải có văn bản tiếp tục đề nghị phê chuẩn quyết định khởi tố bị can, quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố bị can kèm theo chứng cứ, tài liệu bổ sung (khoản 2 Điều 10).

- Trong giai đoạn điều tra, trong trường hợp để kiểm tra, bổ sung tài liệu, chứng cứ khi xét phê chuẩn lệnh, quyết định của CQĐT hoặc trường hợp phát hiện có dấu hiệu oan sai, bỏ lọt tội phạm, vi phạm pháp luật mà VKS đã yêu cầu bằng văn bản nhưng không được khắc phục hoặc trường hợp để kiểm tra, bổ sung chứng cứ, tài liệu quyết định việc truy tố thì kiểm sát viên (KSV) trực tiếp tiến hành hỏi cung, lấy lời khai, đối chất, thực nghiệm điều tra và các hoạt động điều tra khác theo quy định của BLTTHS và thông báo cho Điều tra viên trước khi tiến hành. Điều tra viên có trách nhiệm phối hợp với KSV để thực hiện các hoạt động điều tra khi được yêu cầu. Trong giai đoạn truy tố, nếu VKS trực tiếp tiến hành các hoạt động điều tra nêu trên để quyết định việc truy tố hoặc để giải quyết yêu cầu điều tra bổ sung của Tòa án thì VKS thông báo cho CQĐT để phối hợp nếu thấy cần sự phối hợp của CQĐT (Điều 12).

Đây là quy định thể hiện sự chủ động của VKS trong việc tiến hành các hoạt động điều tra. Đối với hoạt động thực nghiệm điều tra, đã không bó hẹp VKS chỉ được yêu cầu CQĐT tiến hành thực nghiệm trong giai đoạn điều tra, ở giai đoạn truy tố thì chỉ thực nghiệm những tình huống điều tra đơn giản mà qua thực nghiệm tại chỗ có thể kết luận kiểm tra được chứng cứ. Tương tự đối với biện pháp điều tra đối chất, TTLT số 05/2005 quy định trong quá trình kiểm sát điều tra, nếu có mâu thuẫn trong lời khai của những người tham gia tố tụng thì KSV yêu cầu Điều tra viên tiến hành đối chất; KSV chỉ trực tiếp đối chất trong trường hợp có yêu cầu của CQĐT hoặc thấy việc đối chất của ĐTV chưa làm rõ được mâu thuẫn. Với quy định mới, KSV trực tiếp tiến hành đối chất trong những trường hợp như đã nêu ở trên.