1. Từ phương diện luật nội dung

Các nguyên tắc giải quyết vụ án hình sự đối với người dưới mười tám tuổi bao gồm. Thứ nhất từ phương diện luật nội dung, xuất phát từ đặc điểm tâm sinh lý và yêu cầu của việc phòng, chống tội phạm do người dưới 18 tuổi thực hiện, bộ luật hình sự dành một chương riêng quy định về người dưới 18 tuổi phạm tội. Trong đó, có nguyên tắc xử lý (chương XII của bộ luật hình sự 2015). Những nguyên tắc xử lý được quy định trong chương này thể hiện chính sách của Nhà Nước đối với người dưới 18 tuổi phạm tội, đồng thời là cơ sở để quy định về những vấn đề cụ thể về trách nhiệm hình sự cũng như về trình tự, thủ tục giải quyết những vụ án do họ thực hiện. Theo điều 91 Bộ luật hình sự 2015, những nhóm nguyên tắc cơ bản quy định về việc xử lý người dưới 18 tuổi phạm tội có thể khái quát như sau:

1.1 Nguyên tắc thứ nhất về mục tiêu xử lý

Việc xử lý người dưới 18 tuổi phạm tội phải bảo đảm lợi ích tốt nhất cho họ, chủ yếu nhằm giúp đỡ họ sửa chữa những sai lầm, phát triển lành mạnh và trở thành công dân có ích cho xã hội. 

1.2 Nguyên tắc thứ hai về căn cứ quyết định việc xử lý

Việc xử lý người dưới 18 tuổi phạm tội phải dựa trên độ tuổi, khả năng nhận thức của họ về tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nguyên nhân và điều kiện của việc gây ra tội phạm. Việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người dưới 18 tuổi phạm tội chỉ trong trường hợp cần thiết và phải căn cứ vào những đặc điểm nhân thân, tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội và yêu cầu của việc phòng ngừa tội phạm. Việc phòng ngừa tội phạm.

1.3 Nguyên tắc thứ ba: về miễn trách nhiệm hình sự và xử lý bằng các biện pháp khác do BLHS quy định

Người dưới 18 tuổi có thể được miễn trách nhiệm hình sự và áp dụng các biện pháp giám sát, giáo dục nếu có nhiều tình tiết giảm nhẹ, tự nguyện  khắc phục phần lớn hậu quả, phạm tội trong khuôn khổ một số tội danh nhất định, loại tội ít nghiêm trọng, nghiêm trọng, rất nghiêm trọng tùy theo độ tuổi quy định cụ thể tại khoản 2 Điều 91 Bộ luật hình sự hoặc trong trường hợp là người đồng phạm nhưng với vai trò không đáng kể.

1.4 Nguyên tắc thứ tư: về áp dụng hình phạt 

Về hình phạt tử hình và tù chung thân, không xử phạt chung thân, tử hình. Về hình phạt tù có thời hạn khi xử phạt tù có thời hạn, khi xử phạt tù có thời hạn, Tòa án cho họ được hưởng mức án nhẹ hơn mức án áp dụng đối với người đủ 18 tuổi trở lên phạm tội tương ứng và với thời hạn thích hợp ngắn nhất. Về hình phạt tiền, không áp dụng hình phạt tiền đối với người dưới 18 tuổi ở độ tuổi từ 14 tuổi đế dưới 16 tuổi; về hình phạt bổ sung: không áp dụng hình phạt bổ sung đối với người dưới 18 tuổi phạm tội. Ngoài ra, thì án đã tuyên đối với người dưới 18 tuổi khi chưa đủ 16 tuổi không được tính để xác định tái phạm hoặc tái phạm nguy hiểm.  

2. Từ phương diện luật hình thức

Đồng thời, từ phương diện luật hình thức, Bộ luật tố tụng hình sự 2015 đặt ra các nguyên tắc:

2.1 Nguyên tắc thứ nhất: Đảm bảo thủ tục tố tụng thân thiện, phù hợp với tâm lý, lứa tuổi

Đảm bảo thủ tục tố tụng thân thiện, phù hợp với tâm lý, lứa tuổi, mức độ trưởng thành, khả năng nhận thức của người dưới 18 tuổi, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của người dưới 18 tuổi, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của người dưới 18 tuổi, đảm bảo lợi ích tốt nhất của người dưới 18 tuổi : Nguyên tắc này đòi hỏi tất cả các quy trình, thủ tục tố tụng, người tiến hành tố tụng, các cơ sở vật chất - kỹ thuật phục vụ cho hoạt động tố tụng cũng phải phù hợp với tâm lý, lứa tuổi của họ. Việc bảo đảm quyền được đối xử phù hợp với tâm lý, lúa tuổi đòi hỏi một bộ máy tố tụng thân thiện với những người tiến hành tố tụng có hiểu biết vè tâm lý, lứa tuổi chưa thành niên, có kiến thức về khoa học giáo dục, có kỹ năng giao tiếp, có thái độ tôn trọng với người dưới 18 tuổi, quá trình lấy lời khai, hỏi cung đòi hỏi nội dung, cách thức đặt câu hỏi phải phù hợp với mức độ trưởng thành, khả năng nhận thức của người dưới 18 tuổi. Ngoài ra, các thiết chế tư pháp về cơ sở vật chất như buồng hỏi cung, nhà tạm giữ, trại tạm giam , phòng xử án cũng phải được xây dựng thể hiện sự thân thiện, thể hiện mục tiêu giáo dục cảm hóa mà không phải là trừng phạt, đe dọa con người.

2.2 Nguyên tắc thứ hai: Đảm bảo giữ bí mật cá nhân của người dưới 18 tuổi

Vì người dưới 18 tuổi dễ bị tổn thương, bị mặc cảm về những lỗi lầm hoặc các khuyết tật trên cơ thể cũng như đời tư cá nhân, do vậy, khi tiến hành hoạt động tô tụng liên quan đến người dưới 18 tuổi, cơ quan tiến hành tố tụng phải giữ bí mật cá nhân của họ.

2.3 Nguyên tắc thứ ba: Đảm bảo quyền tham gia tố tụng tố tụng của người đại diện của người dưới 18 tuổi 

Đảm bảo quyền tham gia tố tụng của người đại diện của người dưới 18 tuổi, nhà trường, đoàn thanh niên, người có kinh nghiệm, hiểu biết về tâm lý, xã hội, tổ chức khác nơi có người dưới 18 tuổi học tập, lao động và sinh hoat: trong vụ án người dưới 18 tuổi, sự tham gia tố tụng của người đại diện trước pháp luật của người dướ 18 tuổi, nhà trường, đoàn thanh niên, nguwowfic ó kih nghê, hiểu biết về tâm ly, cán bộ làm công tác xã hội, tổ chức khác nơi người dưới 18 tuổi học tập, lao động, sinh hoạt giúp cho các cơ quan tiến hành tố tụng nhận thức đúng về đặc điểm tâm lý. lứa tuổi, điều kiện, hoàn cảnh, động cơ, mục đích phạm tội, cũng như khả năng giáo dục, cải tạo người dưới 18 tuổi phạm tội, các tổn thương và quá trình phục hồi tổn thương của người bị hại dưới 18 tuổi phạm tội, các tổn thương và quá trình phục hồi tổn thương của người bị hại dưới 18 tuổi. Đây là những thông tin rất quan trọng cần được đánh giá chính xác trong các vụ án mà người tham gia tố tụng dưới 18 tuổi. Do vậy, khi tiến hành hoạt động tố tụng, các cơ quan tiến hành tố tụng phải đảm bảo sự tham gia của những người tiến hành tố tụng nêu trên.

2.4 Nguyên tắc thứ tư: Tôn trọng quyền được tham gia, trình bày ý kiến của người dưới 18 tuổi

Quy định này không những tạo điều kiện cho cơ quan tiến hành tố tụng thu thập, đánh giá chứng cứ từ nguồn lời khai của người dưới 18 tuổi. Quy định này không những tạo điều kiện cho cơ quan tiến hành tố tụng thu thập, đánh giá chứng cứ từ nguồn lời khai của người dưới 18 tuổi mà còn tạo cơ hội cho người bị buộc tội dưới 18 tuổi tự bào chữa và tự nhận thức được tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, qua đó nhận ra sai lầm của mình và rút ra những bài học cần thiết cho quá trình phục hồi nhân cách của chính họ. 

2.5 Nguyên tắc thứ năm: Bảo đảm quyền bào chữa, quyền được trợ giúp pháp lý của người dưới 18 tuổi

Đây là quy định xuất phát từ quyền được xét xử công bằng, từ nguyên tắc đảm bảo tranh tụng và từ chính sách nhân đạo đối với người dưới 18 tuổi - nhóm người dễ bị tổn thương và có đủ khả năng tự bào chữa - tự bảo vệ về mặt pháp lý so với các nhóm tuổi khác.

2.6 Nguyên tắc thứ sáu: Đảm bảo các nguyên tắc xử lý của bộ luật hình sự đối với người dưới 18 tuổi phạm tội

Quy định này thể hiện mối quan hệ giữa luật nội dung và luật hình thức: các nguyên tức xử lý đối với người dưới 18 tuổi phạm tội được quy định tại Bộ luật hình sự phải được hiện thực hóa trong quá trình giải quyết vụ án hình sự theo thủ tục tố tụng hình sự.. Do vậy, theo thủ tục tố tụng hình sự đặc biệt với người dưới 18 tuổi phải bảo đảm các nguyên tắc xử lý của bộ luật hình sự đối với đối tượng này. 

2.7 Nguyên tắc thứ bảy: Bảo đảm giải quyết nhanh chóng, kịp thời các vụ án liên quan đến người dưới 18 tuổi

Trong quá trình giải quyết vụ án, những lo sợ quá mức về số phận pháp lý (về mức án, thời gian bị giam giữ, cải tạo), về sự lên án của dư luận xã hội và tâm lý căng thẳng khi phải đối mặt với những đối tượng đồng phạm, với người bị hại (lo sợ bị phản bội, bị trả thù...), cộng thêm sự thiếu hiểu biết về pháp luật và cuộc sống, tất cả những yếu tố đó tạo cho người dưới 18 tuổi tâm lý chán nản, mệt mỏi và bi quan hơn so với người thành niên. Tâm lý này tạo ra những hành động tiêu cực từ chính bản thân người dưới 18 tuổi tâm lý chán nản, mệt mỏi và bi quan hon so với người thành niên. Tâm lý này dễ tạo ra những hành động tiêu cực từ chính bản thân người dưới 18 tuổi. Do đó, quá trình giải quyết các vụ án liên quan đến người dưới 18 tuổi phải bảo đảm nhanh chóng, kịp thời nhằm hạn chế các hành động tiêu cực nêu trên.

Như vậy, người dưới 18 tuổi có các quyền được thụ hưởng thủ tục tố tụng thân thiện, phù hợp với tâm lý, lứa tuổi, mức độ trưởng thành, khả năng nhận thức của người dưới 18 tuổi, được tôn trọng bị mật cá nhân, quyền được tham gia, trình bày ý kiến; được giải quyết nhanh chóng, kịp thời các vụ án liên quan đến người dưới 18 tuổi... Nhiều quyền của người dưới 18 tuổi được thiết kế với các quy định mang tính chất bảo đảm quyền như: Bảo đảm quyền tham gia tố tụng của người đại diện của người dưới 18 tuổi, nhà trường, đoàn thanh niên, người có kinh nghiệm, hiểu biết về tâm lý, xã hội, tổ chức khác nơi người dưới 18 tuổi học tập, lao động và sinh hoạt ; Bảo đảm quyền bào chữa, quyền được trợ giúp pháp của người dưới 18 tuổi, bảo đảm các nguyên tắc xử lý của bộ luật hình sự đối với người dưới 18 tuổi phạm tội. Các quyền này được ghi nhận qua các nguyên tắc của tố tụng hình sự đối với người dưới 18 tuổi.

Đồng thời, người dưới 18 tuổi là người bị buộc tội, bị hại, người làm chứng khi tham gia tố tụng theo một thủ tục tố tụng đặc biệt và chỉ áp dụng thủ tục này nếu trong vụ án có người bị buộc tội, bị hại, người làm chứng chưa đủ 18 tuổi. Trong trường hợp khi họ phạm tội họ là người dưới 18 tuổi nhưng khi bị khởi tố họ đã dủ 18 tuổi trở lên thì áp dụng thủ tục chung như đối với người đủ 18 tuổi trở lên.