(1) Bổ sung quy định về trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại

BLHS 2015 đã bổ sung thêm trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại và quy định cụ thể vấn đề này tại Chương XI với 17 Điều Luật. Theo đó, cơ sở để truy cứu trách nhiệm hình sự của pháp nhân được dựa trên dấu hiệu hành vi của cá nhân như: Việc thực hiện hành vi phạm tội mang danh nghĩa của pháp nhân, mang lại lợi ích cho pháp nhân, thực hiện theo sự chỉ đạo hay chấp thuận của pháp nhân…Bên cạnh đó, BLHS 2015 cũng quy định các biện pháp chế tài cụ thể để áp dụng cho pháp nhân, đồng thời còn quy định chặt chẽ về việc pháp nhân thương mại chịu trách nhiệm hình sự không loại trừ trách nhiệm hình sự của cá nhân. Tuy nhiên, chỉ có pháp nhân thương mại(1) đã thực hiện tội phạm theo quy định tại Điều 76 của BLHS mới phải chịu trách nhiệm hình sự về 31 tội danh, trong đó có 22 tội thuộc nhóm các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế và 09 tội thuộc nhóm các tội phạm về môi trường.

(2) Thu hẹp phạm vi áp dụng hình phạt tù và giảm hình phạt tử hình

BLHS năm 2015 đã xác định nguyên tắc không áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với người lần đầu phạm tội ít nghiêm trọng do vô ý và có nơi cư trú rõ ràng. Trong trường hợp này, Tòa án sẽ quyết định áp dụng một hình phạt không mang tính giam giữ đối với người phạm tội (cảnh cáo, phạt tiền hoặc cải tạo không giam giữ). Đối với hình phạt tử hình, BLHS năm 2015 quy định rõ:

Thứ nhất, hình phạt tử hình chỉ áp dụng đối với 05 nhóm tội phạm, đó là: (1) các tội xâm phạm an ninh quốc gia; (2) các tội xâm phạm tính mạng con người; (3) các tội phạm về ma túy; (4) các tội phạm tham nhũng; (5) và một số tội phạm đặc biệt nghiêm trọng khác do Bộ luật hình sự quy định (như các tội: sản xuất, buôn bán hàng giả là thuốc chữa bệnh, thuốc phòng bệnh; khủng bố; phá hoại hòa bình, gây chiến tranh xâm lược; chống loài người; tội phạm chiến tranh...).

BLHS năm 2015 đã bỏ hình phạt tử hình đối với 07 tội danh: (1) tội cướp tài sản; (2) tội sản xuất, buôn bán hàng giả là lương thực, thực phẩm; (3) tội tàng trữ trái phép chất ma túy; (4) tội chiếm đoạt chất ma túy; (5) tội phá hủy công trình, cơ sở, phương tiện quan trọng về an ninh quốc gia; (6) tội chống mệnh lệnh; (7) tội đầu hàng địch. Như vậy, BLHS năm 2015 chỉ còn duy trì hình phạt tử hình đối với 18/314 tội danh thuộc 07/14 nhóm tội phạm , giảm 11 tội danh so với BLHS năm 1999 và giảm 04 tội danh so với BLHS (sửa đổi năm 2009).

Thứ hai, bổ sung quy định không áp dụng hình phạt tử hình và không thi hành án tử hình đối với người đủ 75 tuổi trở lên. Trường hợp không thi hành án tử hình thì hình phạt tử hình sẽ được chuyển thành tù chung thân.

Thứ ba, bổ sung quy định không thi hành án tử hình đối với người bị kết án tử hình về tội tham ô tài sản hoặc tội nhận hối lộ nếu sau khi bị kết án, người đó đã chủ động giao nộp lại cho Nhà nước ít nhất là 3/4 số tiền, tài sản tham ô, nhận hối lộ và hợp tác tích cực với cơ quan chức năng trong việc phát hiện, điều tra, xử lý tội phạm hoặc lập công lớn (Điểm c khoản 3). Trong trường hợp này, hình phạt tử hình được chuyển thành tù chung thân.

(3) Bổ sung chính sách xử lý đối với người dưới 18 tuổi

BLHS năm 2015 quy định phạm vi chịu trách nhiệm hình sự của người đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi cụ thể và chi tiết hơn. Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về 29 tội danh được nêu tại khoản 2 của Điều luật, trong đó, các em phải chịu trách nhiệm hình sự khi phạm tội rất nghiêm trọng hoặc tội đặc biệt nghiêm trọng thuộc 26 tội danh, còn đối với 03 tội danh khác (cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác; hiếp dâm; bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản) thì các em phải chịu trách nhiệm hình sự kể cả trong trường hợp phạm tội ít nghiêm trọng hoặc tội nghiêm trọng. Như vậy, riêng đối với 03 tội danh này thì phạm vi chịu trách nhiệm hình sự của người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi có mở rộng hơn so với BLHS năm 1999 nhằm đáp ứng yêu cầu của thực tiễn đấu tranh phòng, chống tội phạm người chưa thành niên.

Bộ luật Hình sự năm 2015 cũng bổ sung thêm 3 biện pháp có tính chất giám sát, giáo dục người dưới 18 tuổi khi họ thực hiện tội phạm mà cơ quan có thẩm quyền xét thấy không cần thiết phải áp dụng trách nhiệm hình sự: Khiển trách, hòa giải tại cộng đồng, giáo dục tại xã, phường, thị trấn; thay đổi quá trình xử lý đối với người dưới 18 tuổi là trong quá trình cân nhắc xử lý trước tiên Tòa án phải xét xem đối tượng này có thể áp dụng các biện pháp giáo dục cải tạo, các biện pháp tư pháp hay không, sau đó mới bàn đến việc áp dụng hình phạt.

- Sửa đổi phạm vi miễn trách nhiệm hình sự của người chưa thành niên và bổ sung một số biện pháp giám sát, giáo dục áp dụng đối với trường hợp người chưa thành niên phạm tội được miễn trách nhiệm hình sự (các điều từ 92 đến điều 97).

(4) Về chính sách hình sự đối với trường hợp chuẩn bị phạm tội (Điều 14): có ba điểm mới rất quan trọng:

Thứ nhất, khái niệm được mở rộng về nội hàm “chuẩn bị phạm tội”, theo đó, “chuẩn bị phạm tội” bao gồm cả hành vi “thành lập, tham gia nhóm tội phạm”; đồng thời bổ sung quy định loại trừ đối với các trường hợp mà hành vi chuẩn bị phạm tội cấu thành một tội phạm cụ thể quy định tại Điều 109 (tội hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân), điểm a khoản 2 Điều 113 (tội khủng bố nhằm chống chính quyền nhân dân) và điểm a khoản 2 Điều 299 (tội khủng bố) của BLHS.

Thứ hai, thu hẹp phạm vi xử lý hình sự đối với người có hành vi chuẩn bị phạm tội, quy định rõ trong 24 tội danh thuộc 04 nhóm tội phạm (các tội xâm phạm an ninh quốc gia; các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm con người; các tội xâm phạm sở hữu và các tội xâm phạm an toàn công cộng người có hành vi chuẩn bị phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự. Đây là một điểm mới của chế định chuẩn bị phạm tội trong Bộ luật. Trên cơ sở quy định này, lần đầu tiên, BLHS năm 2015 đã quy định một khung hình phạt riêng đối với trường hợp chuẩn bị phạm tội ngay trong từng điều luật quy định về các tội danh cụ thể.

Thứ ba, khoản 3 quy định riêng đối với người từ đủ 14 đến dưới 16 tuổi chỉ phải trách nhiệm hình sự về hành vi chuẩn bị phạm tội đối với 04 tội danh: (1) giết người; (2) cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác; (3) cướp tài sản; (4) bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản. Bởi đây là những tội đặc biệt nguy hiểm, có tính bạo lực cao, xâm hại trực tiếp đến tính mạng, sức khỏe của con người, cần được quy định để phòng ngừa, xử lý, ngăn chặn sớm trước khi có thể xảy ra trên thực tế.

(5) Về đối tượng được loại trừ trách nhiệm hình sự về hành vi che giấu tội phạm (Điều 18)

Bổ sung thêm khoản 2 quy định về việc loại trừ trách nhiệm hình sự đối với người có hành vi che giấu tội phạm là ông, bà, cha, mẹ, con, cháu, anh chị em ruột, vợ hoặc chồng của người phạm tội, trừ trường hợp che giấu các tội xâm phạm an ninh quốc gia hoặc các tội đặc biệt nghiêm trọng khác quy định tại Điều 389 của BLHS…

(6) Về không tố giác tội phạm (khoản 3, Điều 19)

Bổ sung quy định về trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự đối với người bào chữa trong trường hợp không tố giác tội phạm. Về nguyên tắc, người bào chữa không phải chịu trách nhiệm hình sự trong trường hợp không tố giác tội phạm do chính người mà mình bào chữa đã thực hiện hoặc đã tham gia thực hiện mà mình biết được khi thực hiện nhiệm vụ bào chữa; trừ trường hợp không tố giác các tội xâm phạm an ninh quốc gia quy định tại Chương XIII hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng khác quy định tại Điều 389 của BLHS. bổ sung chế định tha tù trước thời hạn (Điều 66);

(7) Loại trừ trách nhiệm hình sự

BLHS có 07 điều (từ Điều 20 đến Điều 26) quy định về các vấn đề: (1) sự kiện bất ngờ (Điều 20); (2) tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự (Điều 21); (3) phòng vệ chính đáng (Điều 22); (4) tình thế cấp thiết (Điều 23); (5) gây thiệt hại trong khi bắt giữ người phạm tội (Điều 24); (6) rủi ro trong nghiên cứu, thí nghiệm, áp dụng tiến bộ khoa học, kỹ thuật và công nghệ (Điều 25); (7) thi hành mệnh lệnh của người chỉ huy hoặc của cấp trên (Điều 26). Trong đó, bổ sung quy định 03 trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự mới và sửa đổi một số nội dung đối với các trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự mà BLHS năm 1999 đã quy định.

Thứ nhất, về trường hợp phòng vệ chính đáng (Điều 22) và tình thế cấp thiết (Điều 23) có đảo cụm từ “vì bảo vệ quyền hoặc lợi ích chính đáng của mình, của người khác” lên trước cụm từ “lợi ích của Nhà nước, của cơ quan, tổ chức” trong trường hợp phòng vệ chính đáng. Cũng tương tự như trên, cụm từ “vì muốn tránh gây thiệt hại cho quyền, lợi ích hợp pháp của mình, của người khác” lên trước cụm từ “lợi ích của Nhà nước, của cơ quan, tổ chức” trong trường hợp tình thế cấp thiết. Việc đảo vị trí của quyền hoặc lợi ích chính đáng (quyền hoặc lợi ích hợp pháp) của con người, của công dân lên trước lợi ích của Nhà nước, cơ quan, tổ chức là phù hợp với tinh thần Hiến pháp năm 2013(6), ưu tiên bảo vệ quyền con người, quyền công dân.

Thứ hai, ba trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự mới được bổ sung vào Chương này đó là: (1) gây thiệt hại trong khi bắt giữ người phạm tội; (2) rủi ro trong nghiên cứu khoa học, thử nghiệm, áp dụng tiến bộ khoa học, kỹ thuật và công nghệ; (3) thi hành mệnh lệnh của người chỉ huy hoặc của cấp trên (các Điều 24, 25, 26).

(8) Mở rộng căn cứ miễn trách nhiệm hình sự

Theo quy định của BLHS 2015, căn cứ miễn trách nhiệm hình sự chia làm 02 loại:

Thứ nhất, đương nhiên miễn trách nhiệm hình sự: Người phạm tội được miễn trách nhiệm hình sự khi có một trong những căn cứ: Khi tiến hành điều tra, truy tố hoặc xét xử, do có sự thay đổi chính sách, pháp luật làm cho hành vi phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội; Khi có quyết định đại xá.

Thứ hai, người phạm tội có thể được miễn trách nhiệm hình sự khi thỏa mãn một trong các căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 29 BLHS 2015: Khi tiến hành điều tra, truy tố, xét xử do chuyển biến của tình hình mà người phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội nữa; Khi tiến hành điều tra, truy tố, xét xử, người phạm tội mắc bệnh hiểm nghèo dẫn đến không còn khả năng gây nguy hiểm cho xã hội nữa; Người phạm tội tự thú, khai rõ sự việc, góp phần có hiệu quả vào việc phát hiện và điều tra tội phạm, cố gắng hạn chế đến mức thấp nhất hậu quả của tội phạm và lập công lớn hoặc có cống hiến đặc biệt, được Nhà nước và xã hội thừa nhận.

Ngoài ra, BLHS 2015 đã bổ sung thêm một căn cứ mới để có thể được miễn trách nhiệm hình sự, nếu người phạm tội đáp ứng đầy đủ các điều kiện tại khoản 3 Điều 29: “…3.Người thực hiện tội phạm ít nghiêm trọng hoặc tội phạm nghiêm trọng do vô ý gây thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm hoặc tài sản của người khác và được người bị hại hoặc người đại diện của người bị hại tự nguyện hòa giải và đề nghị miễn trách nhiệm hình sự, thì có thể được miễn trách nhiệm hình sự.”

2- Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự năm 2015

(1) Sửa đổi, bổ sung liên quan đến quy định trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân thương mại

Luật sửa đổi, bổ sung đã bổ sung quy định trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại đối với tội tài trợ khủng bố (Điều 300) và tội rửa tiền (Điều 324), theo đó tổng số tội pháp nhân thương mại phải chịu trách nhiệm hình sự là 33 tội danh(7).

Luật sửa đổi, bổ sung BLHS năm 2015 bổ sung quy định về phân loại tội phạm đối với pháp nhân thương mại cụ thể là tội phạm do pháp nhân thương mại thực hiện được phân loại căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội theo quy định tại khoản 1 Điều 9 và quy định tương ứng đối với các tội phạm được quy định tại Điều 76 của Bộ luật hình sự năm 2015. Bổ sung quy định này có ý nghĩa quan trọng để xác định thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự, thẩm quyền điều tra của cơ quan tiến hành tố tụng đối với pháp nhân thương mại phạm tội; ngoài ra việc sửa đổi, bổ sung quy định về tổng hợp hình phạt trong trường hợp pháp nhân thương mại phạm nhiều tội có ý nghĩa rất quan trọng trong xét xử.

(2) Sửa đổi một số quy định về chính sách hình sự đối với người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phạm tội

Về phạm vi chịu trách nhiệm hình sự của người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi, Bộ luật hình sự năm 2015 quy định: người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về 28 tội danh trong đó có cả tội ít nghiêm trọng (Điều 134. Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác). Để đảm bảo tính nhất quán trong chính sách hình sự của Đảng và Nhà nước ta đối với người ở độ tuổi này; đồng thời phù hợp với Công ước của Liên hợp quốc về quyền trẻ em mà Việt Nam là thành viên. Luật sửa đổi, bổ sung đã sửa đổi, bổ sung theo hướng kế thừa quy định của Bộ luật hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009), theo đó, người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội rất nghiêm trọng, tội đặc biệt nghiêm trọng quy định tại một trong 28 điều luật.

Về phạm vi chịu trách nhiệm hình sự đối với hành vi chuẩn bị phạm tội của người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi về hành vi chuẩn bị phạm tội, theo quy định của Bộ luật hình sự năm 2015, người ở độ tuổi này phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi chuẩn bị phạm tội với tội giết người (Điều 123), tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (Điều 134), tội cướp tài sản (Điều 168), tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản (Điều 169). Nay Luật sửa đổi, bổ sung đã sửa đổi, bổ sung quy định lại theo hướng thu hẹp phạm vi chịu trách nhiệm hình sự về hành vi chuẩn bị phạm tội đối với người ở độ tuổi này so với Bộ luật hình sự năm 2015 và Bộ luật hình sự năm 1999; theo đó, người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi chuẩn bị phạm tội: giết người (Điều 123) và cướp tài sản (Điều 168).

(3) Sửa đổi, bổ sung về quy định mức định lượng trong các khung của một số điều luật nhằm bảo đảm sự nối tiếp giữa các mức định lượng trong các khung

Luật sửa đổi, bổ sung đã điều chỉnh mức định lượng tại các khoản của một số điều luật của Bộ luật hình sự năm 2015 liên quan đến mức định lượng về tỷ lệ thương tích, tổn thương cơ thể, các mức định lượng khác thuộc cấu thành của một số tội phạm về kinh tế, môi trường, ma túy, xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng và một số tội phạm khác. Riêng đối với tội danh liên quan đến vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự và vật liệu nổ quy định tại Điều 304 (tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự, Điều 305 (tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vật liệu nổ), Luật sửa đổi, bổ sung đã quy định lại theo hướng kế thừa quy định của Bộ luật hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) đó là sử dụng các tình tiết định tính số lượng lớn, số lượng rất lớn, số lượng đặc biệt lớn ở một số điều luật.

(4) Sửa đổi, bổ sung yếu tố cấu thành của một số tội phạm để bảo đảm phù hợp với thực tiễn

Luật sửa đổi, bổ sung đã sửa đổi, bổ sung theo hướng quy định lại về cấu thành của một số tội phạm để phù hợp với thực tiễn, đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm đối với các điều: 112, 113, 134, 135, 158, 178, 190, 191, 203, 206, 209, 232, 233, 244, 248, 250, 25, 260, 261, 264, 267, 268, 270, 272, 273, 278, 306, 307, 309, 310, 311, 313, 317 , 322, 327, 344, 363, 378, 386, 387, 388, 390 và 410 của Bộ luật hình sự năm 2015.

Luật cũng đã bổ sung hành vi cướp phá tài sản vào cấu thành tội bạo loạn (Điều 112), hành vi phá hủy tài sản của cơ quan, tổ chức, cá nhân vào cấu thành tội khủng bố nhằm chống chính quyền nhân dân (Điều 113); bổ sung quy định cụ thể đối tượng hàng cấm là thuốc lá điếu nhập lậu hoặc pháo nổ tại Điều 190 (tội sản xuất, buôn bán hàng cấm) và Điều 191 (tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm); bổ sung chất XLR-11 (được tẩm ướp trong cỏ Mỹ), lá KHAT (có chứa chất ma túy Cathinone) vào cấu thành của tội sản xuất trái phép chất ma túy (Điều 248), tội tàng trữ trái phép chất ma túy (Điều 249), tội vận chuyển trái phép chất ma túy (Điều 250), tội mua bán trái phép chất ma túy (Điều 251), tội chiếm đoạt chất ma túy (Điều 252), đồng thời, bổ sung vào các điều, khoản, điểm có liên quan quy định “bộ phận của cây khác có chứa chất ma túy do Chính phủ quy định” để bảo đảm tính dự đoán trên thực tế và đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm…