1. Thế nào là chuyển hóa tội phạm?
Khi một người thực hiện hành vi cấu thành tội phạm cụ thể được Bộ Luật hình sự 2015 thì sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội đó. Tuy nhiên, diễn biến hành vi phạm tội không phải lúc nào cũng đồng nhất với hành vi Luật định, trong quá trình thực hiện hành vi phạm tội, có những hành vi đáp ứng cấu thành tội phạm của nhiều tội khác nhau. Trong đó, hành vi sau có mức độ nguy hiểm cao hơn so với hành vi ban đầu. Do đó, nếu xác định tội danh dựa trên hành vi ban đầu sẽ khiến cho tội phạm và hình phạt không tương thích với hành vi phạm tội. Chính vì vậy, hình thành các quy định về chuyển hóa tội phạm.
Việc chuyển hóa tội phạm thường diễn ra đối với tội xâm phạm quyền sở hữu và thường có các dấu hiệu sau đây:
- Bị phát hiện tại thời điểm thực hiện hành chiếm đoạt tài sản.
- Người phạm tội thường dùng vũ lực tấn công hoặc đe dọa dùng vũ lực với nạn nhân hoặc có thể cả người khác.
- Nhằm lấy, giữ, chiếm đoạt bằng được tài sản.
2. Một số kiến nghị về chuyển hóa tội danh trong pháp luật hình sự
Một trong những quy định quan trọng là việc các cơ quan trung ương cần ban hành các thông tư liên tịch hoặc Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao cần phát đi Nghị quyết hướng dẫn chi tiết về quá trình chuyển hóa tội phạm. Điều này là cần thiết đặc biệt khi xét xử những trường hợp hành vi phạm tội có dấu hiệu thuộc mặt khách quan của các loại tội phạm khác nhau, nhưng chung có mục đích chung là chiếm đoạt tài sản. Trong ngữ cảnh này, Nghị quyết cần tập trung vào hướng dẫn cụ thể về việc chuyển hóa hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản, đặc biệt là khi hành vi này chuyển từ tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản sang tội cướp giật tài sản. Hướng dẫn nên cung cấp các nguyên tắc, quy trình và tiêu chí cụ thể để xác định khi nào hành vi chiếm đoạt tài sản được xem xét và chuyển hóa thành một tội phạm khác, như tội cướp giật tài sản. Cụ thể:
Định nghĩa về chuyển hóa tội phạm có thể được thống nhất theo quan điểm sau: Chuyển hóa tội phạm là hiện tượng xảy ra khi một tội phạm ban đầu thỏa mãn từ hai thành phần tội phạm trở lên, nhưng hành vi thực hiện sau đó có mức độ nguy hiểm cao hơn so với hành vi trước đó. Trong trường hợp này, tội phạm không chỉ thay đổi loại hình mà còn trở nên nguy hiểm hơn đối với xã hội. Mức độ nguy hiểm của tội phạm được đánh giá dựa trên tác động của hành vi đó đối với an ninh và trật tự xã hội. Nếu hành vi mới mang lại mức độ nguy hiểm cao hơn, đặt ra những rủi ro lớn hơn cho cộng đồng, thì được coi là có sự chuyển hóa tội phạm. Trong quá trình chuyển hóa, mối liên kết giữa các thành phần tội phạm cần được xác định rõ, đặc biệt là về khách thể. Sự đồng nhất trong khách thể giữa các tội phạm là điều quan trọng, và chính điều này là yếu tố quyết định quá trình chuyển hóa.
Hướng dẫn một số trường hợp chuyển tội danh đối với nhóm tội xâm phạm sở hữu, trong đó quy định nếu ban đầu hành vi của người phạm tội có dấu hiệu gian đối hoặc công khai để có được tài sản, nhưng ngay khi có được tài sản đã nhanh chóng tẩu thoát trước sự chứng kiến của bị hại thì hành vi đó đã chuyển hóa từ lừa đảo, công nhiên thành cướp giật và trường hợp này cần định tội danh là “Cướp giật tài sản”.
Hai là, Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao xem xét, lựa chọn những bản án có quan điểm khác nhau của các cơ quan tiến hành tố tụng hoặc những bản án xuất hiện các tình tiết dễ gây nhầm lẫn trong định tội danh, có thể phát triển thành án lệ để các cơ quan tiến hành tố tụng nghiên cứu và vận dụng vào thực tiễn giải quyết. Trong quá trình hoạt động của hệ thống pháp luật, Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao đóng một vai trò quan trọng trong việc cải thiện và đồng bộ hóa các quy định về chuyển hóa tội phạm. Một trong những cơ chế quan trọng để thực hiện điều này là việc xem xét và lựa chọn những bản án được coi là có quan điểm khác nhau từ các cơ quan tiến hành tố tụng, cũng như những bản án chứa tình tiết dễ gây nhầm lẫn trong định tội danh.
2. Lưu ý khi áp dụng pháp luật hình sự để chuyển hóa tội danh trong thực tiễn
Thứ nhất, trong diễn biến tội phạm, người phạm tội có hành vi mới có liên quan đến tội phạm đang thực hiện nhưng không có dấu hiệu chuyển hóa tội danh mà hành vi đó cấu thành tội độc lập, trường hợp này được coi là phạm nhiều tội. Chẳng hạn, một người giật dây chuyền vàng của người khác rồi bỏ chạy, khi bắt kịp, đối tượng bỏ dây truyền vào túi quần và rút dao giấu trong người lao tới đâm nạn nhân tử vong rồi tẩu thoát, trường hợp này phạm tội độc lập giết người và cướp tài sản.
Thứ hai, trường hợp hành vi phạm tội tuy người phạm tội có hành vi khác liên quan nhưng hành vi mới không làm thay đổi tội phạm đã thực hiện, nhưng cũng không có dấu hiệu để xác định một tội phạm độc lập, trường hợp này có thể được xem là tình tiết định khung tăng nặng hoặc chịu trách nhiệm pháp lý riêng biệt khác. Chẳng hạn, một người trộm tài sản bị người khác truy đuổi nên đối tượng dùng đá ném lại gây thương tích cho người truy đuổi nhưng thương tích 3%. Trường hợp cố ý gây thương tích không đủ cấu thành tội phạm độc lập và cũng không đủ dấu hiệu chuyển hóa tội danh.
Thứ ba, một số trường hợp người phạm tội đã thực hiện nhiều hành vi khách quan nhưng người phạm tội hướng đến một mục đích duy nhất xác định được và khi đó tính chất của các hành vi không thể tách rời nhau và được quy định trong một cấu thành của một tội phạm nhất định, không có chuyển hóa tội danh trong trường hợp này. Chẳng hạn, một người mua ma túy, dùng xe vận chuyển về nhà, đem cất giấu trong phòng nhằm để sử dụng dần hoặc làm giấy tờ giả để đi lừa đảo.
Thứ tư, vấn đề chuyển hóa tội danh trong các vụ án đồng phạm với vai trò của những người đồng phạm là khác nhau, đối với người thực hành thì vấn đề chuyển hóa tội danh hay không phải có đủ các căn cứ như đã nghiên cứu ở trên. Còn đối với vai trò đồng phạm khác thì phải xem xét đến yếu tố nhận thức, thái độ giữa người đồng phạm đó với người thực hiện tội phạm để xác định có phải chịu trách nhiệm đối với tội được chuyển hóa hay không.
Năm là, trong trường hợp người phạm tội dùng vũ lực tấn công người bị hại hoặc người khác khiến người đó chết hoặc gây thương tích cho họ nhằm chiếm đoạt cho được tài sản, thì tùy từng trường hợp xem xét truy cứu trách nhiệm theo nguyên tắc phạm nhiều tội hoặc thêm những tình tiết định khung tăng nặng khác.
Cần phân biệt giữa trường hợp chuyển hóa tội danh trong luật hình sự với trường hợp thay đổi tội danh trong quá trình tiến hành tố tụng hình sự. Bản chất của trường hợp chuyển hóa tội danh trong luật hình sự là trường hợp định tội danh theo hành vi phù hợp theo hành vi phạm tội đã được thực hiện. Đối với trường hợp thay đổi tội danh trong quá trình tiến hành tố tụng hình sự được quy định tại Điều 156 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, theo đó: “Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, Viện kiểm sát ra quyết định thay đổi quyết định khởi tố vụ án hình sự khi có căn cứ xác định tội phạm đã khởi tố không đúng với hành vi phạm tội xảy ra; ra quyết định bổ sung quyết định khởi tố vụ án hình sự khi có căn cứ xác định còn tội phạm khác chưa bị khởi tố”. Với quy định này, khi có căn cứ xác định tội danh đã khởi tố không đúng, cơ quan có thẩm quyền đã khởi tố phải ra quyết định thay đổi quyết định đã khởi tố trước đó. Như vậy, bản chất của hai trường hợp này là hoàn toàn khác nhau.
>>> Xem thêm: Một số vấn đề về luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự 1999
Nếu như các bạn còn có những nội dung câu hỏi vướng mắc vui lòng liên hệ với chúng tôi thông qua số điện thoại của tổng đài tư vấn 19006162 hoặc qua địa chỉ email lienhe@luatminhkhue.vn để được hỗ trợ một cách chi tiết nhất có thể.