1. Những người có quyền bắt bị can, bị cáo để tạm giam

Bộ luật tố tụng hình sự quy định cụ thể những người có quyền bắt bị can, bị cáo để tạm giam. Theo khoản 1 Điều 113, những người đó là:

- Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra các cấp. Trường hợp này, lệnh bắt phải được Viện kiểm sát cùng cấp phê chuẩn trước khi thi hành;

- Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân và Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự các cấp;

- Chánh án, Phó Chánh án Tòa án nhân dân và Chánh án, Phó Chánh án Tòa án quân sự các cấp; Hội đồng xét xử.

Điều luật quy định việc bắt bị can, bị cáo để tạm giam trong khi điều tra, truy tố và trước khi xét xử. Do đó, nếu vụ án đã được đưa ra xét xử tại phiên toà mà cần thiết bắt người thì tuỳ trường hợp mà áp dụng các quy định khác của Bộ luật tố tụng hình sự.

 

2. Căn cứ bắt bị can, bị cáo để tạm giam

Theo các quy định tại Điều 109, 113 của BLTTHS năm 2015 cũng như BLTTHS năm 2003 trước đây không quy định rõ căn cứ để bắt tạm giam. Tuy nhiên xét về mục đích áp dụng biện pháp ngăn chặn là để “tạm giam” nên có thể coi căn cứ áp dụng biện pháp ngăn chặn bắt bị can, bị cáo để tạm giam chính là căn cứ để tạm giam theo quy định tại Điều 119 BLTTHS năm 2015. Tuy nhiên để đảm bảo cơ sở pháp lý vững chắc cho căn cứ bắt tạm giam nên cần thiết quy định rõ căn cứ bắt tạm giam tại Điều 113 BLTTHS năm 2015 theo hướng dẫn chiếu căn cứ tạm giam đến Điều 119 BLTTHS năm 2015.

 

3. Thủ tục lập biên bản bắt

Theo quy định tại Điều 115 BLTTHS năm 2015 về việc biên bản bắt người chỉ có các quy định về việc phải lập biên bản, biên bản đầy đủ nội dung luật định, thành phần tham gia … Ngoài ra còn có quy định “ Biên bản được đọc cho người bị bắt,… nghe. Người bị bắt… ký tên vào biên bản, nếu ai có ý kiến khác hoặc không đồng ý với nội dung biên bản thì có quyền ghi vào biên bản và ký tên”.

Như vậy nếu người bị bắt không đồng ý hoặc có ý kiến khác thì có quyền ghi vào biên bản và ký tên. Điều này được hiểu phải chính bản thân người bị bắt ghi ý kiến và ký tên thì mới đảm bảo về hình thức về biên bản. Tuy nhiên thực tiễn xảy ra trường hợp người bị bắt “không đồng ý việc bắt hoặc có ý kiến khác” nên không đồng ý ký tên vào biên bản và việc ý kiến của người bị bắt do cán bộ lập biên bản ghi chứ không phải do người bị bắt ghi nhận. Như vậy trong trường hợp trên biên bản được lập có đảm bảo về mặt hình thức không, có vi phạm về thủ tục tố tụng không? Theo người viết cần thiết có quy định bổ sung trong trường hợp trên “nếu người bị bắt không đồng ý ký tên vào biên bản thì phải lập biên bản về việc người bị bắt không đồng ý ký tên và có người chứng kiến” và quy định “nếu người bị bắt không tự mình ghi ý kiến vào biên bản và cán bộ lập biên bản có thể ghi thay và việc này phải ghi vào biên bản và có sự đồng ý của người bị bắt”.

Ngoài ra, cũng nên quy định về việc khi lập biên bản thì người bị bắt được giữ 01 biên bản để bảo đảm quyền của người bị bắt trong các giai đoạn tố tụng tiếp theo, hạn chế việc người, cơ quan tiến hành tố tụng chỉnh sửa nội dung, bổ sung chữ ký khi tham gia thiếu thành phần … đã có xảy ra trong thực tế.

 

4. Thời hạn được bắt tạm giam

BLTTHS năm 2015 không quy định cụ thể về thời hạn bắt tạm giam, nhưng xét về mục đích bắt thì có thể áp dụng thời hạn tạm giam chính là thời hạn bắt tạm giam. Trong thực tế việc bắt được tiến hành sau khi khởi tố vụ án nên không đồng nhất với thời hạn điều tra vụ án được tính từ ngày khởi tố vụ án. Trong giai đoạn truy tố, xét xử (kể cả trường hợp điều tra bổ sung, phục hồi điều tra, điều tra lại) được quy định tại Điều 241 và Điều 278 BLTTHS năm 2015 cũng được xác định rõ thời hạn và đều không được vượt quá thời hạn quyết định việc truy tố quy định tại khoản 1 Điều 240 và thời hạn chuẩn bị xét xử quy định tại khoản 1 Điều 277 BLTTHS năm 2015. Tuy nhiên đối với thời hạn bắt tạm giam trong giai đoạn điều tra, hiện còn vướng mắc về thời hạn trong một số trường hợp cụ thể do chưa có điều luật quy định cụ thể, rõ ràng, dẫn đến còn có quan điểm nhận thức và áp dụng khác nhau:

Ví dụ: Ngày 01/01/2019, Cơ quan điều tra khởi tố vụ án về khoản 1 Điều173 BLHS năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Đến ngày 01/02/2019, khởi tố bị can A khoản 1 Điều173 BLHS năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Lệnh bắt bị can để tạm giam. Trong trường hợp này có nhiều quan điểm về xác định thời hạn bắt tạm giam đối với A. Cụ thể:

- Quan điểm 1: Căn cứ Điều 173 BLTTHS năm 2015 Cơ quan điều tra ra Lệnh bắt bị can để tạm giam trong thời hạn 02 tháng do bị cáo phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Việc quy định thời hạn tạm giam không quá thời hạn điều tra là chỉ xét về thời hạn, nghĩa là tương đương thời hạn điều tra trong 02 tháng thì thời hạn tạm giam không được quá 02 tháng, chứ không phải xét về thời điểm kết thúc thời hạn điều tra nghĩa là thời hạn điều tra hết hạn ngày 01/3/2019 thì thời hạn tạm giam không được quá hạn ngày 01/3/2019.

- Quan điểm 2: Cơ quan điều tra ra Lệnh bắt bị can để tạm giam trong thời hạn 01 tháng, lý do thời hạn điều tra chỉ còn 01 tháng, nên thời hạn tạm giam không được quá thời hạn điều tra.

Cả 02 quan điểm trên đều chưa thật sự thuyết phục và chưa có căn cứ pháp lý vững chắc, bỡi lẽ:

Quan điểm 1: Tại Mục 31 Công văn số 5024/VKSTC-V14 ngày 19/11/2018 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao xác định:

“Theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 229, điểm khoản 1 Điều 247 BLTTHS năm 2015, khi trưng cầu giám định, yêu cầu định giá tài sản, yêu cầu nước ngoài tương trợ tư pháp chưa có kết quả mà đã hết thời hạn điều tra, thời hạn quyết định việc truy tố thì phải tạm đình chỉ điều tra, tạm đình chỉ vụ án. Hết thời hạn điều tra, thời hạn quyết định việc truy tố thì cũng hết thời hạn tạm giam trong các giai đoạn này (bởi thời hạn tạm giam không thể dài hơn thời hạn điều tra, thời hạn quyết định việc truy tố), do đó phải hủy bỏ biện pháp tạm giam”.

Công văn số 5024/VKSTC-V14 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao đã xác định hết thời hạn điều tra thì cũng hết thời hạn tạm giam nghĩa là căn cứ để xem xét có quá hạn hay không phải là thời điểm kết thúc của thời hạn điều tra. Như vậy, thời hạn tạm giam không thể dài hơn điều tra nên việc Cơ quan điều tra ra Lệnh bắt bị can để tạm giam trong thời hạn 02 tháng trong khi thời hạn điều tra chỉ còn 01 tháng là không có căn cứ pháp lý vững chắc.

Quan điểm 2: Việc bắt bị can, bị cáo để tạm giam được tiến hành sau khi khởi tố và sau khi Viện kiểm sát đã phê chuẩn (nếu Lệnh bắt bị can để tạm giam do Cơ quan điều tra ban hành) và thời hạn bắt tính từ ngày bắt được bị can. Thực tế các cơ quan tiến hành tố tụng không thể dự liệu được thời điểm nào sẽ bắt được bị can, thời điểm nào sẽ là thời điểm để tính thời hạn tạm giam bị can, bị cáo. Trong trường hợp trên, nếu Cơ quan điều tra bắt được bị can ngày 15/02/2019 thì lúc này thời hạn điều tra chỉ còn 15 ngày, trong khi thời hạn tạm giam là 01 tháng là cũng quá thời hạn điều tra, nên cũng không đảm bảo nguyên tắc thời hạn tạm giam không thể dài hơn điều tra.

Biện pháp ngăn chặn bắt bị can, bị cáo để tạm giam là ảnh hường đến quyền nhân thân, quyền con người của người bị bắt. Vì vậy người, cơ quan có thẩm quyền cần thận trọng khi quyết định việc bắt. Để đảm bảo cơ sỡ pháp lý vững chắc cho người, cơ quan có thẩm quyền vận dụng thực tiễn, thiết nghĩ cơ quan có thẩm quyền cần có những bổ sung, hướng dẫn giải quyết những vướng mắc trên.

 

5. Một số điểm mới trong quy định về biện pháp bắt bị can, bị cáo để tạm giam

So với BLTTHS 2015, điều luật quy định về biện pháp bắt bị can, bị cáo để tạm giam trong BLTTHS 2015 đã được bổ sung những nội dung sau:

Thứ nhất, về văn bản tố tụng liên quan. Ngoài lệnh bắt để tạm giam đã có thêm quyết định bắt để tạm giam, quyết định (của Viện kiểm sát) phê chuẩn lệnh, quyết định bắt để tạm giam và nội dung của những văn bản tố tụng này phải tuân thủ quy định chung tại khoản 2 Điều 132 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Thứ hai, trình tự, thủ tục thực hiện biện pháp ngăn chặn này được quy định chặt chẽ hơn và phù hợp hơn với yêu cầu bảo đảm quyền con người của người bị bắt như sau: khi đọc lệnh, quyết định bắt phải giải thích quyền và nghĩa vụ cho người bị bắt, lập biên bản về việc bắt, giao lệnh, quyết định bắt cho người bị bắt. Sự tham gia của người láng giềng của người bị bắt chứng kiến việc thực hiện lệnh, quyết định bắt trong Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 đã bị thay thế bằng sự tham gia chứng kiến của bất kỳ người nào có đủ năng lực hành vi dân sự.

Trong mọi trường hợp việc thi hành lệnh, quyết định bắt, lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp phải lập biên bản. Biên bản này ngoài các quy định chung của biên bản tố tụng theo Điều 133 còn phải đáp ứng một số yêu cầu bổ sung quy định tại Điều 115 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, ví dụ như phải ghi rõ tình trạng sức khỏe và ý kiến, khiếu nại của người bị bắt. Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 đã được xác định rõ thời hạn 24 giờ kể từ khi nhận người bị giữ, bị bắt là thời hạn mà Cơ quan điều tra phải thông báo ngay cho gia đình người bị giữ, bị bắt, chính quyền xã, phường, thị trấn nơi người đó cư trú hoặc cơ quan, tổ chức nơi người đó làm việc, học tập biết; trường hợp người bị giữ, bị bắt là công dân nước ngoài thì phải thông báo cho cơ quan ngoại giao của Việt Nam để thông báo cho cơ quan đại diện ngoại giao của nước có công dân bị giữ, bị bắt.

LUẬT MINH KHUÊ (Sưu tầm & Biên tập)