Các quy định của pháp luật đối với từng trường hợp cụ thể theo tinh thần của nguyên tắc nhà nước, xã hội và gia đình có trách nhiệm bảo vệ phụ nữ, giúp đỡ các bà mẹ thực hiện tốt chức năng cao quý của người mẹ.

1. Khái quát về bảo vệ quyền làm mẹ trong quan hệ vợ chồng

Quan hệ vợ chồng giữa hai bên nam nữ phát sinh trên cơ sở của việc kết hôn. Trong thời kỳ hôn nhân vợ chồng có quyền được sống chung với nhau và sinh con hoặc nhận con nuôi. Chính sách kế hoạch hóa gia đình vừa là để bình ổn sự gia tăng dân số nhưng nó đem lại ý nghĩa đối với người phụ nữ nhằm đảm bảo sức khỏe cho người phụ nữ. Người phụ nữ càng độc lập thì họ càng có quyền tự quyết đối với cuộc sống của mình, người phụ nữ sẽ có quyền quyết định sinh con hoặc không sinh con và ngay cả trong quan hệ vợ chồng. Từ chính sách của pháp luật có thể thấy được quyền làm mẹ của người phụ nữ được bảo vệ trong các trường hợp sau:

2. Quyền sinh con và xác định cha mẹ cho con

Quy định tại điều 88 Luật HNGĐ năm 2014:
Điều 88. Xác định cha, mẹ
1. Con sinh ra trong thời kỳ hôn nhân hoặc do người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân là con chung của vợ chồng.
Con được sinh ra trong thời hạn 300 ngày kể từ thời điểm chấm dứt hôn nhân được coi là con do người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân.
Con sinh ra trước ngày đăng ký kết hôn và được cha mẹ thừa nhận là con chung của vợ chồng.
2. Trong trường hợp cha, mẹ không thừa nhận con thì phải có chứng cứ và phải được Tòa án xác định.
Có thể coi đây là nguyên tắc suy đoán pháp lý xác định cha mẹ con khi cha mẹ có hôn nhân hợp pháp. Nếu người vợ sinh con ra trong thời kỳ hôn nhân thì về nguyên tắc con đó được xác định là con chung của hai vợ chồng, người chồng đương nhiên là cha của đứa trẻ. Khi con được sinh ra , cha mẹ của đứa con đó chưa chính thức trở thành vợ chồng trước pháp luật nên đứa trẻ đó không thể coi là con chung của vợ chồng thì điều kiện bắt buộc là cha mẹ người con đó phải kết hôn và cùng tự nguyện thừa nhận đứa con đó. Con được thụ thai trong thời kỳ hôn nhân nhưng sinh ra sau khi hôn nhân chấm dứt trong một khoảng thời gian quy định cụ thể là 300 ngày kể từ khi hôn nhân chấm dứt trước pháp luật. Với việc quy định một khoảng thời gian mang thai tối đa là 300 mà không quy định thời gian mang thai tối thiểu pháp luật dã tạo điều kiện tìm được người cha về mặt pháp lý cho đứa trẻ.
Khi có sự tranh chấp tư cách cách người cha của đứa trẻ thì người yêu cầu xác định lại quan hệ cha con có thể là người chồng hoặc người vợ hoặc từ người thứ ba và phải có đơn gửi đến toà án. Người chồng có quyền yêu cầu xác định lại quan hệ cha con khi nghi ngờ đứa bé do vợ mình sinh ra trong thời kỳ hôn nhân không phải con của mình. Quyền yêu cầu xác định lại quan hệ cha con được xem là quyền nhân thân gắn liền với quyền làm cha của người chồng. Đối với quyền yêu càu xác định lại quan hệ cha con của người chồng không thể chuyển giao hoặc nhờ người khác thực hiện thay chỉ trừ trường hợp người có yêu cầu xác định chết. Quyền định đoạt luôn được pháp luật tôn trọng vào đảm bảo thực hiện. Trong trường hợp người chồng nghi  ngờ hoặc ngay cả khi có chứng cứ xác thực về việc đứa trẻ do vợ mình sinh ra trong thời kì hôn nhân không phải là con mình nhưng người chồng không khởi kiện yêu cầu xác định lại cha cho đứa trẻ thì được coi là người chồng đã mặc nhiên thừa nhận đứa trẻ là con mình. Do đó họ,tên của người chồng được ghi là họ, tên của cha đứa trẻ trong giấy khai sinh của trẻ. Nếu người chồng khởi kiện yêu cầu xác định lại quan hệ cha con thì ngườichồng có nghĩa vụ cung cấp các chứng cứ để chứng minh mình không phải làcha của đứa trẻ do người vợ sinh ra.Pháp luật không quy định cụ thể bằng chứng người chông phải chứng minh là gì, tuy nhiên người chồng có quyền sử dụng và đưa ra mọi chứng cứ chứng minh cho yêu cầu của mình. Những chứng cứ mà người chồng đưa ra có thể là: người chồng không có quan hệ sinhlí với người vợ trong thời gian người vợ có thể  thụ thai đứa trẻ do đi công tác, học tập xa, hoặc do bị ốm đau, tai nạn; người vợ đã có quan hệ ngoại tình với người khác trong thời gian có thể thụ thai đứa trẻ; kết quả giám định gen…Trong trường hợp người chồng chứng minh được người vợ có hành vi ngoại  tìnhvới người đàn ông khác thì cũng chưa đủ chứng cứ để bác bỏ quan hệ cha con.Trong những trường hợp này toà án chỉ có thể chấp nhận yêu cầu của người chồng về việc không thừa nhận con nếu người chồng chứng minh được là trong khoảng thời gian người vợ có thể thụ thai đứa trẻ người chồng không có quan hệ sinh lí với vợ. Nếu người chồngvẫn có quan hệ sinh lí  với vợ thì  đứa trẻ vẫn được xác định là con của người chồng, trừ khi kết quả giám định gen chứng minh  rõ không có quan hệ huyết thống giữa người chồng với đứa trẻ.Việc giám định kết quản gen này phải thực hiện theo đúng các thủ tục tố tụngthì mới được chấp nhận là chứng cứ trong việc xác định quan hệ cha con. Tri phí giám định do người yên cầu chi trả. Pháp luật hiện hành không quy định thời hiệu khởi  kiện xác định lại quan hệ cha - con, do đó người chồng có quyền khởi kiện để xác định lại quan hệ cha con bất cứ lúcnào.
Từ phía người vợ: có nhiều trường hợp đứa trẻ sinh ra không phải là con của người chồng và người chồng có thể biết hoặc không biết điều đó nhưng người chồng không yêu cầu khởi kiện để xác định quan hệ cha-con. Rất hiếm khi người vợ chủ động khởi kiện để yêu cầu xác định người đàn ông khác không phải là chồng mình là cha của đứa trẻ do mình đẻ ra trong thời kỳ hôn nhân. Nhưng pháp luật vẫn tạo điều kiện để người vợ trung thực với người chồng trong cuộc sống hôn nhân. Để chứng minh cho yêu cầu của mình, người mẹ cóthể đưa racác chứng cứ chứng minh về việc đã  có  quan hệ  sinh lí với người đàn ông  khác trong thời gian có thể thụ thai đứa trẻ, hoặc do bị cưỡng dâm, hiếp dâm mà có thai…  cùng với kết quả giám định gen. Việc người mẹ khởi kiện yêu cầu xác định một người đàn ông khác (không phải là người chồng) là  cha của đứa trẻ sinh ra trong thời kì hôn nhân không cần phải có sự đồng ý của người đàn ông đó.Toà án sẽ dựa trên các căn cứ mà người mẹ chứng minh để xác định có hay không cóquan hệ cha con giữa người đàn ông đó với đứa trẻ. Quyết định của toà án về việc xác định người đàn ông đó là cha của đứa trẻ là căn cứ pháp lí làm phát sinh quan hệ pháp luật cha - con giữa người đàn ông kiavới đứa trẻ và là cơ sở để cải chính hộ tịch đối với đứa trẻ.Quyền làm mẹ của người phụ nữ đượccông nhận và bảo vệ gắn liền với quyền của đứa con, đó là bảo đảm quyền sống của trẻ khi sinh ra, quyền được xác định họ tên, dân tộc, tôn giáo, quốc tịch, quyền được biết về nguồn gốc huyết thống, được yêu thương, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục của cả cha vàmẹ.

3. Thực hiện quyền làm mẹ qua việc áp dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản

Theo điều 5 Nghị định 10/2015/NĐ-CP ngày 28 tháng 01 năm 2015 Quy định về việc nhận tinh trùng, nhận noãn, nhận phôi thì: 
Điều 5. Quy định về việc nhận tinh trùng, nhận noãn, nhận phôi
1. Người nhận tinh trùng phải là người vợ trong cặp vợ chồng đang điều trị vô sinh mà nguyên nhân vô sinh là do người chồng hoặc là phụ nữ độc thân có nhu cầu sinh con và noãn của họ bảo đảm chất lượng để thụ thai.
2. Người nhận noãn phải là người Việt Nam hoặc người gốc Việt Nam và là người vợ trong cặp vợ chồng đang điều trị vô sinh mà nguyên nhân vô sinh là do người vợ không có noãn hoặc noãn không bảo đảm chất lượng để thụ thai.
3. Người nhận phôi phải thuộc một trong các trường hợp sau đây:
a) Người vợ trong cặp vợ chồng đang điều trị vô sinh mà nguyên nhân vô sinh là do cả người vợ và người chồng;
b) Người vợ trong cặp vợ chồng đang điều trị vô sinh mà vợ chồng đã thực hiện kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm nhưng bị thất bại, trừ trường hợp mang thai hộ;
c) Phụ nữ độc thân mà không có noãn hoặc noãn không bảo đảm chất lượng để thụ thai.
4. Người nhận tinh trùng, nhận noãn, nhận phôi phải có đủ sức khỏe để thực hiện kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm, mang thai và sinh con; không đang mắc các bệnh lây truyền qua đường tình dục, nhiễm HIV, bệnh truyền nhiễm thuộc nhóm A, B; không bị bệnh di truyền ảnh hưởng đến thế hệ sau, không bị mắc bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình.
5. Cơ sở khám bệnh, chữa bệnh không được cung cấp tên, tuổi, địa chỉ và hình ảnh của người nhận tinh trùng, nhận phôi.
Đây là điều kiện cơ bản thiết yếu để các cặp vợ chồng vô sinh có thể được thực hiện áp dụng kỹ thuật sinh sản để thụ thai và sinh con. Việc áp dụng kĩ thuật hỗ trợ sinh sản phải được sự đồng ý của cả vợ chồng, cả vợ chồng đều phải kí tên vào đơn đề nghị thực hiện kĩ thuật hỗ trợ sinh sản. Cặp vợ chồng được thực hiện kĩ thuật hỗ trợ sinh sản là cha, mẹ của đứa trẻ sinh ra, không phụ thuộc vào việc đứa trẻ đó có cùng huyết thống với người chồng hoặc người vợ hay không. Vấn đề xác định lại quan hệ cha, mẹ, con không đặt ra đối với những đứa trẻ sinh ra thông qua kĩ thuật hỗ trợ sinh sản. Đứa trẻ sinh ra bằng kĩ  thuật  hỗ  trợ  sinh  sản  không có quyền thừa kế tài sản của  người  đã cho  tinh trùng, cho noãn hoặc  cho  phôi.  Với nguyên tắc bí mật trong việc cho - nhận tinh trùng, noãn, phôi giữa người nhận  và  người cho, tranh chấp về việc xác định cha, mẹ cho con sinh ra từ kĩ thuật hỗ trợ sinh sản khó có điều kiện xảy ra.Trong trường hợp có tranh chấp về quyền làm cha, mẹ giữa ngườinhận tinh trùng, nhận noãn, nhận phôi với những người cho thì quyền làm cha, mẹ về mặt pháp lí đối với đứa trẻ luôn được xác định thuộc về người nhận, tức là thuộc về cặp vợ chồng vôsinh.

4. Thực hiện quyền làm mẹ thông qua việc nhờ mang thai hộ

Khi mà các kỹ thuật hỗ trợ sinh sản không thể giúp người mẹ mang thai và sinh con đó là những trường hợp người phụ nữ bị dị tật bẩm sinh không có tử cung, u xơ tử cung, hoặc bị suy tim, suy  gan,  suy thận, bị tai biến sản khoa nên  không  thể  mang thai, mặc dù họ vẫn có noãn và mong muốn được làm mẹ. Luật Hôn nhân và gia đinh 2014 đã cho phép mang thai hộ vì mục  đích  nhân đạo với những điều kiện chặt chẽ. Quy định tại khoản 2 Điều 95 Luật HNGĐ năm 2014, vợ chồng có quyền nhờ  mang  thai  hộ khi có đủ các điều kiện sau: a) Có xác nhận của tổ chức y tế có thẩm quyền về việc người vợ không thể mang thai và sinh con ngay cả khi áp dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản;b) Vợ chồng đang không có con chung;c) Đã được tư vấn về y tế, pháp lý, tâm lý. Người mang thai hộ phải là người thân thích cùng hàng của bên vợ hoặc bên chồng; đã từng sinh con và chỉ được mang thai hộ một lần, có đủ khả năng mang thai theo xác nhận của tổ chức y tế có thẩm quyền; trường hợp người phụ nữ mang thai hộ có chồng thì phải có sự đồng ý bằng văn bản của người chồng; đã được tư vấn về y tế, pháp lý, tâm lý. Con sinh ra từ việc mang thai hộcó cha mẹ là cặp vợ chồng nhờ mang thai hộ,  mang huyết thống di truyền của cả cha và mẹ là cặp vợ chồng nhờ mang thai hộ. Cặp vợ chồng nhờ mang thai hộ có quyền, nghĩa vụ của cha mẹ đối với con kể từ thời điểm con được sinh ra, không được từ chối nhận con vì bất cứ lí do nào. Việc cho phép mang thaihộ đã đảm bảo được quyền làm cha mẹ của vợ chồng, nhưng cũng ràng buộc trách nhiệm của vợ chồng đối với đứa con sinh ra từ việc mang thaihộ.

5. Bảo vệ quyền làm mẹ qua việc nhận con nuôi

Trong quan hệ hôn  nhân,  quyền  nhận nuôi con nuôi phải do  vợ  chồng  cùng  bàn bạc, thoả  thuận,  quyết  định.  Theo  quy  định tại khoản 3 Điều 8 Luật nuôi con nuôi năm 2010 thì “một người chỉ được làm con nuôi của một người độc thân hoặc của cả hai người là vợ chồng”. Điều đó có nghĩa là vợ chồng chỉ có thể nhận một đứa trẻ  làm  con nuôi chung mà không được nhận trẻ làm con nuôi riêng, trừ trường hợp cha dượng, mẹ kếnhận con riêng của vợ hoặc chồng làm  con nuôi. Trong trường hợp cha dượng,  mẹ  kế  nhận con riêng của vợ hoặc chồng  làm  con nuôi thì các quyền và nghĩa vụ  trong quan hệ cha mẹ và con giữa mẹ đẻ hoặc  cha  đẻ  với đứa trẻ vẫn giữ nguyên  mà  không  bị  chấm dứt theo quy định tại khoản 4 Điều 24 Luật nuôi con nuôi. Khi đó  đứa  trẻ  được  nhận nuôi trở thành con chung của vợ chồng.
Vợ chồng có quyền nhận nuôi con nuôingay cả trong trường hợp đã có con đẻ. Pháp luật “khuyến khích việc nhận trẻ em mồ côi, trẻ em bị bỏ rơi, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khác làm con nuôi.”  Việc nhận những trẻ em này làm con nuôi giúp cho các em có môi trường gia đình, được chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục tốt, vừa tạo cơ hội cho  các cặp vợ chồng thực hiện quyền làm cha mẹ. Chỉ những cá nhân đáp ứng đầy đủ những  điều kiện mà pháp luật quy định mới  được  nhận nuôi con nuôi. Trong trường hợp  vợ  chồng cùng nhận nuôi con nuôi  thì  về  nguyên  tắc,  vợ chồng cùng  phải  thoả  mãn  những  điều kiện của người nhận nuôi theo quy định của pháp luật, trừ trường hợp cha dượng, mẹ kế nhận con riêng của vợ hoặc  của  chồng  làm con nuôi hoặc cô, dì, chú, bác ruột nhận cháu ruột làm connuôi. Trong việc nhận nuôi con nuôi, về nguyên tắc, quyền làm cha  mẹ  đối  với  đứa  trẻ thuộc  về  cha  mẹ  nuôi,  trừ  trường  hợp giữa cha mẹ đẻ và cha mẹ nuôi có thoả thuậnkhác khi giao nhận con nuôi. Trong việc nuôi con nuôi, quyền, lợi íchhợp pháp của con nuôi và cha mẹ nuôi được pháp luật bảo vệ.  Khi chấm dứt nuôi con nuôi, quyền, lợi  ích  hợp  pháp  của  cha  mẹ nuôi được pháp luật bảo vệ nếu con nuôi đã thành niên có hành vi xâm phạm  đến  sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy  tín…  của cha mẹ nuôi, làm tình  cảm  cha  mẹ  và  con  giữa hai bên không còn.

6. Bảo vệ quyền làm mẹ khi giải quyết ly hôn

Quyền làm mẹ của người vợ khi lý hôn được pháp luật bảo vệ trong các trường hợp sau theo quy định của pháp luật hiện hành. Trường hợp người vợ đang có thai, sinh con hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi thì người chồng không có quyền yêu cầu ly hôn khoản 3 Điều 51 Luật HNGĐ năm 2014. Tuy nhiên, nếu người vợ có yêu cầu ly hôn thì toà án vẫn giải quyết. Quy định này nhằm bảo vệ sức khoẻ tinh thần, thể chất của người vợ đang trong thời kì mang thai hoặc đang nuôi con nhỏ. Điều đó không chỉ vì lợi ích của người vợ mà quan trọng hơn là vì lợi ích của đứa trẻ hoặc thai nhi. Những biến động trong đời sống hôn nhân do việc ly hôn có thể gây những ảnh hưởng tiêu cực, tác động mạnh mẽ, sâu sắc đến thể trạng, tinh thần của người vợ khi đang mang thai hoặc nuôi con nhỏ, nên có thể dẫn đến việc sảy thai, đến sức khoẻ của thai nhi hoặc đến việc nuôi con khi con còn đang búmẹ.

7. Bảo vệ quyền làm mẹ trong việc giải quyết quyền nuôi con khi vợ chồng ly hôn

Khoản 2 điều 81 Luật HNGĐ 2014:
Điều 81. Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn
1. Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan.
2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.
3. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con.
Với tư cách là cha mẹ của đứa trẻ, vợ  chồng  có  quyền bình đẳng như nhau trong  việc  được trực  tiếp  nuôi  dưỡng,  giáo  dục  con.  Việc giao con cho vợ hoặc chồng trực tiếp nuôi dưỡng phải căn cứ vào quyền  lợi  mọi  mặt của con, tức là phải xem xét một  cách toàn diện các yếu tố ảnh hưởng, chi phối đến việc chăm sóc, giáo dục con, không chỉ  là  điều  kiện kinh tế mà còn cần xem  xét  đến  điều kiện sống; sự phù hợp  về  tinh thần, đảm bảo sự phát triển nhân cách  của  trẻ  với  người  trực tiếp nuôi dưỡng, sự ổn định môi trường sống của trẻ… Quyền làm mẹ của người phụ  nữ gắn liền trực tiếp  với lợi  ích  của  con,  do đó pháp luật bảo đảm quyền  trực  tiếp  nuôi con của người mẹ đối với con dưới 36 tháng tuổi để đảm bảo lợi ích cho con. Nếu người mẹ không có khả năng nuôi con thì các bên có các thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con.Bảo vệ quyền làm mẹ của người phụ nữ khi không trực tiếp nuôi con sau ly hôn. Theo quy định  của  pháp luật, sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi con vẫn có nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con,  có quyền  thăm nom con mà không ai có quyền cản trở.  Vì vậy mọi hành vi cản trở người mẹ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con đều là hành vi vi phạm pháp luật. Đối với nhiều trường hợp. Mặt khác với những hành vi lạm dụng việc thăm nom con của người không trực tiếp nuôi con nhằm mục đích ngăn cản, gây khó khăn, cản trở trực tiếp nuôi con. Điều này trái với quy định của pháp luật với những thỏa thuận trước đó của cha mẹ làm ảnh hưởng tới sinh hoạt, học tập của con và làm tổn thương tình cảm của trẻ đối với cha mẹ. Những hành vi vi phạm thể hiện việc coi thường và thách thức pháp luật. Đối với lợi ích của con pháp luật cũng quy định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn. Quyền yêu cầu việc thay đổi người trực tiếp nuôi con làm quyền gắn liền đối với quyền làm cha, làm mẹ nên chỉ cha mẹ mới có quyền yêu cầu. Khi mà người trực tiếp nuôi con sau ly hôn không đáp ứng đảm bảo các quyền lợi cho con thì người mẹ có thể có cơ hội thực hiện quyền trực tiếp nuối con nếu khi giải quyết ly hôn người mẹ không được gia quyền nuôi con
Rất mong nhận được sự hợp tác!
Trân trọng./.
Bộ phận tư vấn pháp luật hình sự - Công ty luật Minh Khuê